Ebooks tham khảo sưu tập tiền

Nơi download sách điện tử tham khảo về sưu tập tiền các loại.

Thiên nhiên kỳ diệu trên tiền

Thiên nhiên luôn đem lại cho chúng ta những điều kỳ diệu. Hãy khám phá vẻ đẹp thế giới hoang dã trên bộ sưu tập tiền thế giới.

Giới thiệu đôi nét về tiền xu 2 Euro kỷ niệm của Đức

Từ năm 2006, mỗi năm sẽ có 1 đồng 2 euro mới với biểu tượng của 1 Bang Đức được phát hành, chủ đề trên tiền là kiến trúc các giáo đường,lâu đài nổi tiếng tại nước Đức.

Phong thủy các loại tiền

Bạn đã nghe về phong thủy của nhà ở, văn phòng làm việc... Nhưng bạn đã bao giờ nghe nói tiền cũng có phong thủy hay chưa?

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiền cổ các triều đại của Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiền cổ các triều đại của Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Hũ tiền cổ 13kg có từ thế kỷ XI

Theo những đặc điểm của mặt chữ thư pháp thể hiện trên đồng tiền và đặc điểm khuôn đúc có thể khẳng định đấy là đồng Nguyên Phong Thông Bảo, có từ thời nhà Lý - Trần. Những đồng tiền này có từ thế kỷ XI.

Ông Đào Tam Tỉnh cho biết tiền cổ phát hiện tại xã Nghi Kiều (Nghi Lộc) có từ thể kỷ XI

Như Dân trí đã đưa tin, vào đầu tháng 10/2011, ông Nguyễn Văn Thái (xóm 15, xã Nghi Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An) trong lúc đào rãnh thoát nước trong vườn nhà đã phát hiện 1 hũ tiền cổ lên tới 13kg. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Đào Tam Tỉnh - Giám đốc Thư viên tỉnh Nghệ An, Hội viên Hội di sản Việt Nam, hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam về số tiền cổ trên.

Căn cứ vào đặc điểm các Hán tự có trên những đồng tiền cổ, ông Đào Tam Tỉnh khẳng định trong hũ tiền cổ trên có nhiều đồng tiền có niên đại khác nhau, chủ yếu tập trung vào 3 triều đại Lý - Trần, Lê Trung Hưng và tiền nhà Thanh (Trung Quốc). Trong đó có đồng tiền Khang Hy Thông Bảo được đúc vào năm 1713 để kỷ niệm sinh nhật vua Khang Hy, vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa.


Đồng Khang Hy Thông Bảo với ý nghĩa khỏe mạnh và phát đạt

Mặt sau của đồng Khang Hy Thông Bảo là kiểu chữ triện ghi nơi đúc tiền ở Mãn Châu

Theo truyền thuyết, đồng tiền này được đúc lẫn với vàng nung chảy từ tượng 18 vị La Hán nên có quyền năng đặc biệt, trong dịp năm mới thường được tặng cho trẻ em làm bùa hộ mệnh. Mặt khác, đồng tiền này còn là bùa may mắn vì có chữ Khang Hy (có ý nghĩa sự khỏe mạnh và phát đạt). Phía sau đồng tiền có chữ triện, ghi lại nơi đúc tiền, ở Mãn Châu.

Loại thứ 2 là đồng Trị Bình Nguyên Bảo, đây là đồng tiền kẽm. Triều vua Anh Tông nhà Tống (Trung Quốc) cũng có tiền Trị Bình Nguyên Bảo được đúc từ thế kỷ XI. Tuy nhiên, xét đặc điểm của đồng Trị Bình Nguyên Bảo mà ông Thái đào được, ông Đào Tam Tỉnh cho rằng, những đồng tiền cổ này có xuất xứ từ Việt Nam, được đúc từ triều Lý - Trần.

Đồng Trị Bình Nguyên Bảo có từ thế kỷ XI, thời Lý - Trần

Loại thứ 3 là đồng Nguyên Phong Thông Bảo. Trung Quốc cũng có loại tiền Nguyên Phong Thông Bảo bằng kim loại. Tuy nhiên, Nguyên Phong cũng là niên hiệu của Vua Trần Thái Tông (thể kỷ XIII). Qua đặc điểm của đồng tiền, ông Đào Tam Tỉnh khẳng định đây là đồng tiền cổ của Việt Nam, được đúc vào thời Vua Trần Thái Tông.

Đồng Nguyên Phong Thông Bảo có từ thời vua Trần Thái Tông

Về chiếc bát sành đã được người buôn đồ cổ trả giá 6 triệu đồng, theo ông Đào Tam Tỉnh thì có từ thời Lê Trung Hưng. “Căn cứ vào đặc điểm của các đồng tiền, chiếc hũ và chiếc bát sành này thì có khả năng trong số tiền cổ phát hiện được ở Nghi Kiều còn có lẫn cả tiền Cảnh Hưng có từ thế kỷ XVIII. Trong đó các loại tiền cổ trên thì đồng Khang Hy Thông Bảo có giá trị hơn cả.

Tuy nhiên giá trị lớn nhất của số tiền cổ trên không phải là giá trị về mặt kinh tế mà nó có ý nghĩa đặc biệt về sử học và khảo cổ học. Với việc phát hiện những đồng tiền này ở Nghi Kiều cho thấy triều đại nhà Trần đã mở mang bờ cõi vào đây từ rất sớm. Trước đây, tại xã Trù Sơn (huyện Đô Lương) - cách vị trí phát hiện được 13kg tiền cổ này không xa đã phát hiện được một ngôi đền thờ công chúa nhà Trần cùng với nhiều đồ cổ Lý - Trần có từ thế kỷ XI-XII”, ông Đào Tam Tỉnh cho hay.

Chiếc bát sành có từ triều Vua Lê Trung Hưng
Toàn bộ số tiền cổ phát hiện được trong vườn nhà ông Nguyễn Văn Thái có thể được tập hợp vào thời Cảnh Hưng (Triều Vua Lê Hiển Tông - thế kỷ XVIII) hoặc triều nhà Nguyễn.

Hoàng Lam

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

"Lão lang" thích chơi tiền cổ

Nhắc đến lão "lang Chọi” Nguyễn Khắc Bảo, nhiều người quanh vùng thành phố Bắc Ninh nghĩ ngay tới chủ hiệu thuốc Cao Chọi nổi tiếng. Tuy nhiên, dân "làng chơi" lại biết đến ông Bảo với “tạ” tiền cổ, đồ cổ có giá trị lên tới hàng tỷ đồng.

Lão “lang Chọi” đang độ “quá niên chạc ngoại ngũ tuần”, vốn xuất thân giáo học rồi theo nghề thầy lang ở thành phố Bắc Ninh. Người trong vùng gọi ông là “ lang Chọi” bởi lý do đơn giản, nghề thuốc gia truyền nhà ông “phát tích” đã mấy đời từ cái tên nôm của làng cổ là Chọi.

Làm lang y nhưng ông Bảo lại có thú chơi sưu tầm tiền cổ gần 20 năm nay. Theo lời kể của lão lang, để có được những đồng tiền cổ quý giá với các niên đại khác nhau, ông đã lặn lội đi khắp nơi, đến các khu vực có di tích cổ được khai quật để tìm mua lại những đồng tiền cổ quý hiếm.

Ông "lang Chọi" Nguyễn Khắc Bảo

Thấy ông Bảo đam mê tiền cổ đến “phát điên”, gia đình nào đào móng nhà lượm được vài đồng tiền cổ là lại đem đến bán cho ông. Đôi khi, ông mua hàng cân một, người ta đem đến bao nhiêu ông đều nhận cả. Có rất nhiều đồng tiền quý hiếm ông Bảo sưu tầm được từ cách đó. Đồng nào có rồi, ông cất đi để trao đổi với người chơi khác. Nhiều người đam mê tiền cổ ở tận Tiền Giang, Cà Mau, Tây Ninh... biết tiếng tìm đến "lão lang" Bảo để giao lưu.

Ông Bảo đã thu thập được hàng "tạ" tiền cổ các loại. Ông có cả những đồng tiền cổ của Trung Quốc từ thời Chu, Tần, Hán, Đường... mà người Hoa mang sang nước ta từ thời Bắc thuộc. Đa số tiền cổ làm từ đồng với những hình thù mặt trăng, mặt trời, 12 con giáp... cùng nhiều kiểu mẫu phong phú, đa dạng mà chỉ người chơi mới rõ nguồn gốc lịch sử.

Bộ sưu tập tiền cổ của ông Bảo

Bên cạnh bộ tiền cổ Trung Quốc, "lão lang" còn sưu tầm tiền cổ Việt Nam, sắp xếp và phân loại chúng theo các niên đại. Chẳng hạn, đồng Thái Bình Hưng Bảo thời vua Đinh Tiên Hoàng, lớp tiền Khai Nguyên Thông Bảo đời Đường Huyền Tông (Trung Quốc). Các lớp tiền Thiên Phúc Trấn Bảo thời Tiền Lê, đồng tiền Thuận Thiên Đại Bảo, Minh Đao Nguyên Bảo, Thiên Phù Nguyên Bảo thời nhà Lý cho đến đồng tiền Tự Đức Thông Bảo đời vưa Tự Đức nhà Nguyễn... Từ những đồng tiền từ thời Trần, Lê, Hồ, Mạc đến những đồng đặc biệt mà quan lại từng vùng tự đúc, tất cả được ông Bảo cất giữ cẩn thận.

Thú chơi tiền cổ "kết duyên" với "lang" Bảo từ hồi nào, chính ông cũng không hay. Đôi lúc, ông đăm chiêu: Có lẽ các cụ đặt tên là Bảo nên ông mới có cái thú sưu tầm tiền cổ đến “phát điên” như thế. Bởi tên những đồng tiền cổ đều có chữ "Bảo" sau cùng và cái duyên đó đã đến với ông rất tình cờ.

Mới đầu, ông chỉ sưu tầm đồ cổ, giao lưu với một số nhà nghiên cứu. Sau, thấy tiền cổ có sức hút lạ kỳ, ông bị "cuốn" vào từ ngày đó. Theo ông Bảo, sưu tầm tiền cổ không chỉ là một thú chơi tao nhã mà còn là niềm đam mê nhằm giữ gìn nét văn hóa đặc trưng các thời vua chúa.

Dù sở hữu số lượng tiền cổ khá lớn lên đến hàng “tạ” nhưng ông ít tham gia vào việc mua bán, kinh doanh tiền cổ. Khi rảnh rỗi, "lão lang" này lại đem những đồng tiền của mình ra lau chùi, ngắm nghía, sắp xếp lại và dịch chữ Hán, coi đó như một thú vui trong cuộc sống.
(Theo Vtc)

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

Người phụ nữ mê sưu tập tiền cổ

Phú Yên là vùng đất nhiều tiền cổ kim loại, nhưng để có được bộ sưu tập cá nhân tiền cổ đầy đủ cả hai loại tiền giấy và tiền đồng kim loại như chị Trần Thùy Nhiên (ảnh) là điều chưa ai làm được. Bộ tiền cổ của chị khá độc đáo, được phân loại công phu và trưng bày rất đẹp mắt ngay tại ngôi nhà của chị ở P.3 (TP. Tuy Hòa), vốn đang là điểm tham quan hấp dẫn du khách.


Bộ sưu tập của chị có hầu hết các hiệu tiền của các triều đại phong kiến Việt Nam và hiện đại được bài trí theo sáu chủ đề thú vị, trải dài theo quá trình lịch sử và các thời kỳ ở Việt Nam.

Bộ sưu tập được trưng bày theo hệ thống, nguyên tắc bảo tàng. Khi bước vào phòng trưng bày nhìn bên trái, khách sẽ bắt gặp bản đồ Phú Yên được ghép bằng 92 đồng tiền kim loại của Trung Quốc (TQ) và Việt Nam, bắt đầu từ hiệu tiền “Khai nguyên thông bảo” đời nhà Đường năm 621 (TQ) theo dòng lịch sử đến hiệu tiền Bảo Đại thông bảo của triều Nguyễn 1945 (Việt Nam); ranh giới giữa các huyện, thị xã, thành phố và biển Đông được chủ nhân bộ sưu tập ghép bằng những vỏ ốc khai thác ở biển Phú Yên. Sau đó, đi từ trái qua phải sẽ lần lượt có các bộ sưu tập tiền theo từng thời kỳ phát triển như: chủ đề tiền TQ với hơn 50 hiệu tiền từ Khai nguyên thông bảo (thời nhà Đường), Hồng Vũ thông bảo (nhà Minh) và Thánh Tông thông bảo, Khang Hy thông bảo (thời nhà Thanh)… Sau đó là chủ đề tiền cổ Việt Nam đồng từ thời Lý đến thời nhà Lê Trung Hưng với nhiều loại như: Càn Phù nguyên bảo (thời Lý Thái Tông, năm 1039-1041), Minh Đạo nguyên bảo; Trị Bình thông bảo; triều Trần có Nguyên Phong thông bảo… rồi tiền nhà Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, thời Tây Sơn, các vua triều Nguyễn… với các hiệu tiền: Minh Đức thông bảo, An Pháp nguyên bảo; Thái Bình thông bảo, Thái Đức thông bảo, Quang Trung thông bảo…

Bên cạnh đó, bộ sưu tập của chị Nhiên còn có những tờ tiền giấy như tiền tệ Việt Nam thời Pháp thuộc và từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.

Chị Nhiên đến với việc sưu tập tiền cổ cũng rất tình cờ. Chị kể: làm bảo tàng được hơn 10 năm, trong những năm 1996, 1997, khi cùng cán bộ bảo tàng Phú Yên đi cơ sở, chị phát hiện trong dân có rất nhiều tiền cổ kim loại. Sau đó, được người dân ở huyện Tuy An cho một bụm tiền, chị đem về nhà cất. Rồi tự tìm hiểu, nhờ người am hiểu đọc chữ trên tiền, tìm tài liệu lịch sử về các thời kỳ liên quan đến các đồng tiền, thấy hay hay vì muốn biết vì sao đồng tiền thời này lại thay thế đồng tiền thời kia, rồi những hình họa, hoa văn lạ trên những đồng tiền đó đã khiến chị thích thú và từ đó cất công sưu tập tiền cổ. Tất cả tiền mua được, chị đều nhờ chuyên gia đọc chữ dùm rồi sau đó đánh số và bắt đầu khâu bảo quản. Đến đầu năm 2010, khi đã về hưu, chị bắt đầu thực hiện ý định làm phòng trưng bày ngay tại nhà.

Tâm Như
(http://www.phunuonline.com.vn)

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

Đọc lịch sử bằng... tiền cổ

Trong suy nghĩ của nhiều người, những đồng xu đã ngã màu thời gian chỉ là vật vô tri vô giác nằm trong đống phế liệu, nhưng với Bùi Tiến Đạt (đường Tống Duy Tân, TP Huế), một người đam mê sưu tầm tiền cổ, nó cũng có linh hồn và chứa đựng trong mình bao chứng tích lịch sử. Với anh, sưu tầm tiền cổ là cách để đọc và gìn giữ lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Anh Bùi Tiến Đạt với bộ sưu tập tiền cổ của mình
Trong giới sưu tầm đồ cổ, Bùi Tiến Đạt còn khá trẻ, mới 34 tuổi. Anh xuất thân trong một gia đình có cha đam mê sưu tầm tiền cổ. Những ngày theo cha tìm tòi, nghiên cứu lịch sử của từng đồng xu, đam mê ấy truyền sang anh lúc nào chẳng hay. Anh kể: “Nhiều hôm, ba tôi kiếm được mấy đồng xu trông rất cũ. Thấy ông cứ săm soi đến quên ăn, quên ngủ, thỉnh thoảng lại cười sung sướng khi phát hiện ra điều gì đó, tôi thấy là lạ. Tôi hỏi và được nghe ông giảng giải về nét đặc biệt của đồng tiền, cả những dấu ấn lịch sử thể hiện qua nó. Tôi bắt đầu hiểu và thấy sở thích của ông thật thú vị. Cha mất, anh được thừa kế bộ sưu tập và cả lòng đam mê của ông. Năm 2000, anh chính thức bắt tay vào sưu tầm tiền cổ.
Anh tìm đọc mọi thông tin liên quan đến tiền cổ. Càng đọc, nghiên cứu, anh càng say mê. Bởi, những đồng tiền ấy cũng có tiếng nói riêng của mình về thời đại nó được sinh ra. Qua đồng tiền, có thể biết được sự biến động của lịch sử. Nó gắn liền với từng vị vua, từng triều đại và niên đại lịch sử nhất định. Ngoài ra, sự xuất hiện của tiền xu ở các nơi cũng gắn liền với những sự kiện lịch sử. Để lý giải những điều này, anh phải tìm đọc lịch sử. Nhờ đó, kiến thức về lịch sử của anh càng thêm uyên sâu. “Càng sưu tầm, tìm hiểu, tôi càng hứng thú với công việc này. Đặc biệt, kỹ thuật, khuôn đúc và thư pháp của tiền cổ luôn hấp dẫn tôi. Đồng tiền có nhiều điểm còn mập mờ càng thôi thúc người nghiên cứu tìm tòi để đưa ra những kiến giải hợp lý”, anh Đạt tâm sự.
Với người thanh niên trẻ này, sưu tầm tiền cổ là thú vui để giải tỏa “stress”. Những khi mệt mỏi, anh lại lần giở bộ sưu tập, mân mê, ngắm nghía từng đồng tiền là bao căng thẳng tan biến. Trò chuyện với chúng tôi, anh say sưa nói về lịch sử, giá trị văn hóa của tiền cổ, đồng thời đưa ra những lý giải về sự xuất hiện và thư pháp của đồng tiền: “Đồng tiền ghi dấu lịch sử của một quốc gia. Hiểu nó, có thể hiểu thêm về lịch sử của đất nước. Vì thế, những đồng tiền cổ đã trở thành tiếng nói lịch sử của một thời đại. Tôi mong rằng, mình và những người có cùng đam mê giữ được dấu ấn lịch sử còn vương lại của dân tộc thông qua tiền cổ”.
Để có được bộ sưu tập quý giá với hàng nghìn xu tiền, anh Đạt đã bỏ ra rất nhiều công sức. Anh thường xuyên đến các cơ sở đúc đồng ở phường Đúc nhặt nhạnh hay săn lùng khắp các sạp đồ cổ ở Huế và các tỉnh lân cận để tìm mua những đồng tiền quý. Cứ nghe thông tin ở đâu có tiền cổ, có khai quật là anh tìm đến. Có khi, anh còn lặn lội ra đến Hà Nội hoặc vào TP. Hồ Chí Minh, Nha Trang, Hội An... Nghe đâu có người vừa nhặt được đồng tiền hiếm, dù xa hay trong túi không đủ tiền anh cũng vay mượn để mua. Với anh, niềm đam mê như đã “ăn sâu” vào máu. Cũng không hiếm lần tiếc rẻ khi giá trị của đồng tiền vượt xa khả năng kinh tế của anh: “Khi ấy, tôi báo cho những người quen có điều kiện hơn mua, để khi nhớ, mình có thể nhìn ngắm, sờ nắn, rứa cũng thỏa lòng”.
Bộ sưu tập quý giá
Anh Đạt chủ yếu sưu tập tiền Việt Nam từ năm 1945 trở về trước. Hiện tại, anh đang có một bộ sưu tập tiền xu cổ “khổng lồ”, tập hợp tương đối đầy đủ các hiệu tiền của các triều đại phong kiến Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến nhà Nguyễn; trong đó, có các đồng tiền quý như: đồng “Thái Bình Hưng Bảo” thời Đinh Tiên Hoàng, đây là đồng tiền được đúc đầu tiên của Việt Nam; đồng “Đại Bảo Thông Bảo” (thời vua Lê Thái Tông); hay đồng “Bảo Đại Thông Bảo”, là đồng tiền cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Ngoài ra, anh còn sưu tập tiền của Trung Quốc (thời Tần Hán, Tam Quốc, Đường… như đồng Ngũ Thụ, Bán Lạng…), Nhật Bản, Triều Tiên để đối chiếu niên đại với tiền Việt Nam.
Riêng bộ sưu tập tiền cổ các triều đại Việt Nam của anh có hơn 40 loại, mỗi triều đại có từ 4 - 5 chủng loại. Với bộ tiền triều Nguyễn, anh có tới 9 loại, đặc biệt là thời kỳ chúa Nguyễn ở Đàng trong. Trong bộ sưu tập của anh Đạt, độc đáo nhất là đồng tiền “Thiệu Trị Thông Bảo” được đúc bằng đồng thau. Đó là đồng tiền có 2 mặt với 2 niên hiệu khác nhau.Mặt trước của tiêu bản này là niên hiệu “Thiệu Trị Thông Bảo”, nhưng mặt sau lại là niên hiệu “Gia Long Thông Bảo”. Đây là đồng tiền mà anh tâm đắc nhất và chưa có kiến giải thoả đáng. Đó có thể là cách tưởng nhớ bậc tiền nhân của vị vua Thiệu Trị, hoặc là do nó bị đúc lỗi. Theo đánh giá của giới sưu tầm tiền cổ thì đây là đồng tiền độc nhất và tới thời điểm này chưa ai có.
Yêu quý những đứa con tinh thần của mình, những đồng tiền cổ luôn được anh cất giữ cẩn thận, nâng niu như một báu vật. Mỗi bộ tiền đều được anh phân loại theo từng thời kỳ, niên đại và sắp xếp theo trình tự thời gian trong những cuốn album chuyên dụng một cách khoa học.Nhìn những đồng xu được trưng bày trên kệ, người xem hẳn không khỏi thán phục về độ am tường của người sưu tầm tiền cổ còn khá trẻ này.
Theo ThuathienhueOnline

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Sống giữa kho tiền vô giá

Tiền vốn dĩ là rất quý, tiền cổ lại còn quý hơn. Nó giống như một thứ bùa ngải mà nếu không may ai đó vướng phải, ắt hẳn cuộc sống sẽ luôn lao đao vì bị “tiền hành” để rồi mơ ước có ngày được sống giữa một kho tiền.
Đến nhà ông Đào Văn Minh (Kim Sơn, Sơn Tây, Hà Nội), cảm nhận đầu tiên là ngôi nhà vốn đã nhỏ bé dường như lại càng thêm chật chội hơn bởi khắp các không gian trong nhà là vô số những đồng tiền cổ, tổng cộng có đến hơn… 9.000 loại.

Hơn 20 năm… lọ mọ

Để có được bộ sưu tập đồ sộ như hiện nay, ông Minh đã phải đánh đổi quãng thời gian suốt hơn 20 năm ròng rã, lặn lội khắp các vùng miền trên dải đất hình chữ S, bởi sưu tầm tiền cổ là cả một hành trình dài không có hồi kết.

Chủ yếu mua lại từ những người chuyên tìm kiếm khai thác hoặc do ngẫu nhiên mà đào được các cục tiền keo kết lẫn với đất bụi thời gian, nhiều khi cũng phải phó mặc cho sự may rủi của số phận, mà theo cách gọi của người sưu tầm, đó là cơ duyên thì mới có thể bổ sung thêm vào bộ sưu tập của mình những đồng tiền cổ có giá trị.

Để có được hơn 9.000 loại tiền cổ trong bộ sưu tập như hiện nay, ông Minh đã phải mua đến hơn 6 tấn “tiền phôi” xuất lộ dưới mặt đất, mang về lại dày công đục đẽo, cạy từng tí bùn đất dính trên mỗi đồng tiền.

“Nhiều khi cũng là may rủi, có những lúc mua về, ngồi đẽo cả ngày, thậm chí cả đêm, cho đến khi “cục tiền” đã ra thành “bã tiền” mà không tìm được đồng tiền nào khả dĩ bổ sung vào bộ sưu tập hoặc có chút giá trị để “gỡ gạc” tiền vốn mua phôi. Nhưng cũng có lần cơ duyên tìm đến, trong vài cân phôi tiền mua về tôi lại có được những đồng tiền vô cùng quý hiếm và có giá trị”, ông Minh cho biết.

Hàng nghìn đồng tiền cổ các loại được lưu giữ cẩn thận trong các tủ kính

Nói về cái duyên của mình với tiền cổ, ông Minh cũng cho biết thêm: “Thật may mắn khi tôi có được trong bộ sưu tập của mình đồng Thuận Thiên Đại Bảo - đồng tiền đầu tiên do vua Lý Công Uẩn cho đúc khi rời đô lên Thăng Long. Đây là đồng tiền đặc biệt quý hiếm, được giới chơi tiền cổ quốc tế đánh giá ở cấp độ Đại Trân và có giá khoảng hơn 100 triệu đồng (tính theo tiền Việt Nam). Có được nó cũng là cái duyên, khi tôi mua được 15 kg tiền của anh em thợ buôn đưa từ Nghệ An ra. Tiền đựng trong một ống sành loại nhỏ đường kính khoảng 13 cm, cao gần 30 cm còn nguyên vẹn. Một mẻ tiền may mắn, đẹp cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Sau một ngày đập đẽo, may mắn đã phát lộ đồng Thuận Thiên Đại Bảo vô giá này”.

Hơn 20 năm lọ mọ, bộ sưu tập ngày một nhiều lên và những trang nhật ký viết về những chuyến lặn lội để tìm mua “cục tiền may rủi” cũng ngày một dày lên, đồng thời với nó là tiền trong nhà ngày một ít đi, bởi quá trình sưu tầm của ông Minh là hành trình…

Ông Đào Văn Minh, chủ nhân của kho tiền cổ vô giá

Đem tiền nay đổi lấy… tiền xưa

Chơi tiền cổ là cả một hành trình tìm kiếm, đòi hỏi người sưu tầm phải bỏ thời gian, công sức và cả tiền bạc. Cái cảnh ôm tiền nay đi mua từng mẫu tiền xưa từ những thợ buôn luôn khiến người sưu tầm cảm thấy xót xa, rẻ thì vài ba chục, đến một vài trăm ngàn đôi khi tiền triệu, có những mẫu hiếm thì giá lên tới hàng chục triệu; còn những mẫu quá quý hiếm mà đôi khi phải mua ngược từ nước ngoài về thì giá cả thật kinh khủng, dăm chục, một trăm triệu, thậm chí đến tiền tỷ là chuyện thường… Tuy mua là được đấy nhưng đã mấy ai dám xuống tiền?

Chia sẻ về kho tiền xưa có giá trị hàng chục tỷ đồng tiền nay của mình, ông Minh cho biết: “Chỉ tính riêng tiền mua số phôi tiền suốt hơn 20 năm qua cũng đã lên đến tiền tỷ (tính bình quân khoảng hơn 200 nghìn đồng/1kg, nhân với 6 tấn - PV). Có những lúc trong nhà không còn một đồng nào, tôi đã phải bán đi nhiều thứ, thậm chí cả những vật dụng của gia đình để có tiền mua vài chục cân hoặc thậm chí chỉ là dăm ba lạng “quặng tiền” theo kiểu may rủi. Rồi có lần anh em mang về hàng tạ mà không đủ tiền mua, tiếc đứt ruột mà đành chịu”.

“Vẫn biết tiền cổ là một thứ đam mê xa xỉ, nhưng một khi nó đã ăn vào máu thì không thể nào dứt ra được”, ông Minh thổ lộ. “Thời gian đầu thấy chồng cứ mang hết tiền đi để mua phôi tiền, vợ con tôi cũng kêu lắm, nhưng rồi dần dần niềm đam mê đó của tôi cũng được vợ con chấp nhận và chia sẻ. Đến giờ thì hình như là cả nhà tôi ai cũng mê… tiền cổ”.

Ngôi nhà của ông Minh giống một bảo tàng cổ vật

Kho tiền vô giá

Đặc thù nghề chơi đòi hỏi các đồng tiền cổ phải có tính liên tục. Vì lý do nào đó mà không có được đầy đủ, kể cả ở mức độ đại diện, thì coi như bộ sưu tập vẫn chưa được hoàn chỉnh và còn phải lần mò tìm kiếm. Tiền tệ kích thước tuy nhỏ bé nhưng kỷ luật đòi hỏi khá khắt khe, bởi trên mình chúng có chữ nghĩa biểu hiện quốc thể và nói về nơi chúng được sinh ra, nếu tên chữ của chúng mà khớp với niên hiệu, niên biểu, việc xếp đặt sẽ trở nên đơn giản. Nhưng tên tuổi chúng lạ lẫm thì phải tìm hiểu, nghiên cứu mất hàng năm, thậm chí nhiều năm trời.

Theo tài liệu về sưu tập tiền cổ (của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên) đến thời điểm hiện tại, chỉ tính các loại tiền công cụ và tiền tròn lỗ vuông được lưu hành từ năm 770 TCN đến năm 1950 SCN thì có đến trên dưới 15 ngàn tự dạng (loại).

Như vậy có thể thấy bộ sưu tập khổng lồ của ông Minh với hơn 9.000 loại thực sự là kho tiền vô giá. Có được một kho tiền như vậy đã khó, nhưng để hiểu về nó và có thể đánh giá được mức độ quý hiếm của nó cũng như những câu chuyện lịch sử đằng sau đó cũng khó khăn không kém. Mỗi khi có thêm một mẫu tiền cổ nào đó, người sưu tập lại cất công để tìm hiểu lai lịch của nó.

Và mỗi đồng tiền lại mở ra một câu chuyện thú vị. Những đồng tiền cổ mà ông Minh đã sưu tập được không chỉ mang ý nghĩa vật chứng lịch sử mà còn giống một pho sách để chúng ta tìm hiểu những biến thiên, thăng trầm của từng giai đoạn lịch sử, thậm chí cả những dâu bể đời người và có khi còn là cả triết lý sống của một dân tộc.

(Theo An ninh Thủ đô)

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Hồ Quý Ly - Vị vua nhiều cải cách


Hồ Quý Ly – Vị vua nhiều cải cách. Tranh: Nguyễn Đông Hải
Hồ Quý Ly tự là Thánh Nguyên, cháu 16 đời của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, vốn gốc thuộc tộc Việt ở Chiết Giang, phương nam Trung Quốc, đời Hậu Hán (thời Ngũ Qúy) sang làm Thái thú Diễn Châu, sau định cư ở hương Bào Đột (Nghĩa Đàn, Nghệ An).

Hồ Quý Ly là nhân vật thông minh lỗi lạc, ông đã đề ra nhiều cải cách táo bạo. Ông ra sách Minh Đạo để phê phán hệ tư tưởng Tống Nho, phục vụ cho những cải cách mới như hạn điền, hạn nô, sa thải tăng lữ để hạn chế phong kiến quý tộc, đồng thời tăng thêm lực lượng lao động xã hội góp phần giải phóng sức sản xuất, sức lao động.



[Đồng "Thánh Nguyên thông bảo - (Hồ Quý Ly - 1400)]


Nhà Hồ cho đo đạc lại ruộng đất, điều tra dân số để nắm chắc tài sản và sức lao động toàn xã hội, phát hành tiền giấy, giải quyết khó khăn về tài chính quốc gia và thuận tiện cho việc lưu thông hàng hoá.

Cải cách chế độ thi cử, mở mang việc giáo dục, để đào tạo nhân tài, lập Quảng tế thự để chữa bệnh cho nhân dân đều là những cải cách tiến bộ.

Nhà Hồ định ra hình luật để củng cố, tăng cường bộ máy và quyền lực của triều đình trung ương, quan tâm đến giao thông thuỷ lợi, đào sông, đắp đường thiên lý, đặt phố xá, đặt trạm công văn.

Về quân sự thì tăng cường quân đội thường trực, xây dựng các tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí kỹ thuật để chống giặc phương Bắc.

[Thành Nhà Hồ - Thanh Hóa]
Các cải cách của Hồ Quý Ly có tính chất toàn diện, có những cải cách đi trước thời đại, giá trị thực tiễn của nó đến nay vẫn còn hấp dẫn, nhiều nhà kinh tế nước ngoài đã ca ngợi Hồ Quý Ly là một nhà cải cách kinh tế lớn. Nhưng Hồ Quý Ly mắc tội giết vua Thiếu Đế cùng tôn tộc và quan lại nhà Trần, kể cả tướng Trần Khát Chân, gồm hơn 370 người để cướp ngôi nhà Trần. Do vậy bị nhân dân oán hận. Khi quân Minh sang xâm lược nước ta, Hồ Qúy Ly đã không tập hợp được lực lượng toàn dân đánh giặc, bố con Hồ Qúy Ly bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc.

Nguồn:http://www.quehuong.org.vn

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

Quảng Ninh: Phát hiện bình tiền cổ thời hậu Lê và các nước khác

Ngày 18.2, ông Trần Trong Hà - Giám đốc Bảo tàng Quảng Ninh - cho biết: Thông qua sự giúp đỡ của Phòng Văn hoá TP.Móng Cái và cán bộ chuyên trách của xã Vĩnh Thực, các cán bộ chuyên môn của Bảo tàng QN đã tiếp cận, đưa về một bình gốm cổ, bên trong đựng nhiều đồng tiền của Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc - do người dân tên là Vũ Văn Viên phát hiện trước Tết Nguyên đán Tân Mão.

Trong bình gốm đất nung bị đập vỡ - cao khoảng 37cm, rộng 21cm, có miệng rộng 10,5cm - cơ quan bảo tàng đã thu lại được trên 160 đồng tiền xu (số lượng ước tính trên 20kg - chưa tính số đã bị người dân lấy mất trước đó) được xác định là tiền thuộc triều đại thời hậu Lê, gồm: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh Hưng cự bảo; tiền Nhật Bản - ở vào TK thứ 17 là Nguyên Phong thông bảo và tiền Trung Quốc - thuộc đời nhà Thanh.

Theo ông Hà, đây là lần đầu tiên Bảo tàng QN phát hiện bộ tiền cổ ở vùng đất Móng Cái (ảnh). Việc phát hiện được bộ tiền cổ này là hết sức có giá trị về lịch sử, văn hoá, do nó đã chứng minh vùng đất Vĩnh Thực nằm trong vùng thương cảng giao lưu buôn bán của người Việt nói chung và có mối liên hệ với thương cảng Vân Đồn (trên thực tế, đảo Vĩnh Thực có cửa Đầu Tán và thương cảng cổ Vân Đồn, Vạn Ninh - Móng Cái).

Cũng từ phát hiện bình tiền cổ trên, xét về khoa học đã xác định chủ nhân của nó là người Việt Nam - thông qua chiếc bình đựng tiền (hoa văn, họa tiết, chất liệu đất nung thuộc thời hậu Lê) và cũng là một thương gia có mối quan hệ buôn bán rộng rãi với người Nhật Bản, Trung Quốc.

(Nguồn: Lao động)

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011

Vua đi cày trong lễ hội tịch điền Đọi Sơn



[Tiền thời Tiền Lê : Thiên Phúc Trấn Bảo - LÊ ĐẠI HÀNH (980-1005)]

Theo ghi chép trong cuốn "Việt lược sử" biên soạn vào thời Trần, năm Đinh Hợi (987) vua Lê Đại Hành về cày tịch điền ở Đọi Sơn, mở đầu phong tục đẹp để các vị vua triều đại sau noi gương khuyến nông.

Đây là năm thứ ba người dân làng Đọi Tam, xã Đọi Sơn phục dựng lại lễ hội truyền thống này. Năm 2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từng tham dự và xuống đồng cày ruộng.


Lễ hội Tịch điền được tổ chức sau Tết Nguyên đán (mùng 7/1 âm lịch), với các tiết mục múa rồng, rước kiệu và dâng lễ vật.

Kiệu vua Lê Đại Hành được rước vào lễ đài trên cánh đồng làng Đọi Tam.

Tiết mục trống hội náo nhiệt trong ngày xuống đồng.

Múa rồng trên cánh đồng làng.

Vị bô lão mặc áo vàng tái hiện cảnh vua Lê Đại Hành xuống đồng cày ruộng.

Theo sau là các cô gái gieo hạt, cầu mong mùa màng bội thu.

Lễ hội kết thúc bằng những tiết mục ca múa nhạc dân tộc trên cánh đồng Đọi Tam.

Hoàng Hà (www.vnexpress.net)

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011

Chiếu dời đô : Theo cách hiểu của tôi


Bác sĩ Nguyễn Anh Huy (bên trái) đang trình bày cho Giáo sư Phan Huy Lê
(Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) nghe về Lịch sử tiền tệ Việt Nam

Long thành thật xứng Cố đô,
Kim Âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu…

0. Sức hấp dẫn nhất của đồng tiền cổ, theo tôi, chính vì trên đó đã hiện diện quyền uy tối cao của những nền chính thể thời đế chế... Đó chính là niên hiệu, tên của những vị vua, được đúc nổi trên mặt của đồng tiền! Nên các nhà sưu khảo tiền cổ thường tìm hiểu thêm các sự kiện lịch sử, những huyền sử bao quanh ông vua đúc ra đồng tiền. Điều đó mới thú vị…

0.1. Và tôi còn nhớ cuối năm 1997, khi được mời làm “Khách của VTV3” giao lưu về việc “Bảo tồn Di sản Văn hóa Dân tộc”, Nhà báo Lại Văn Sâm hỏi tôi “-Vì sao bạn say mê tiền cổ?”, tôi trả lời rằng “-Nhìn vào đồng tiền của Lý Thái Tổ, tôi thấy Chiếu dời đô về Thăng Long; nhìn vào đồng tiền của triều Trần, tôi thấy 3 lần đánh bại giặc Nguyên…”. Đó chỉ là cách nói của một thanh niên học đòi “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, với tinh thần tự hào dân tộc…

0.2. Có người nhận xét rất đúng rằng tôi đã “đẩy trí tưởng tượng đi quá xa thực tế!”; bởi “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, đã được các nhà sử học phân tích, chỉ là một tác phẩm văn chương cô đọng, đặc sắc, một bản tuyên ngôn địa - chính trị, địa - chiến lược… Nhưng riêng tôi, tôi xin trình bày một khía cạnh khác: Chiếu dời đô, dưới cái nhìn của địa - kinh tế tiền tệ.

*

1. Những đồng tiền Việt trước “Thăng Long”:

1.1. Sau khi nước Đại Việt(*) thành lập vào thế kỷ X, những đồng tiền đầu tiên của dân tộc Việt là “Đại Bình Hưng Bảo” và “Thiên Phúc Trấn Bảo”, ngoại trừ lưu hành trên đất Việt thời đó, thì theo ông XiongBaoKang - Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu tiền tệ và Bảo tàng tiền tệ Quảng Tây (Trung Quốc) - trong một chuyến ghé Huế tháng 7/2003 để nghiên cứu tiền cổ, cho biết hai loại tiền này được tìm thấy ở Hoa Nam (Trung Quốc) - là đất của người Việt cổ - rất nhiều!

-Tôi đã đưa ra giả thuyết hai chữ “Đại Bình” trên đồng tiền vua Đinh không phải là niên hiệu của vua, mà có ý nghĩa là đã “đại bình” (định) được Loạn 12 sứ quân, thống nhất dựng nước; và công lao “đại bình định” đó còn được thể hiện qua đế hiệu Đại Thắng Minh hoàng đế Đại Việt ngang hàng với thiên triều đại đế Trung Hoa (các vua đời sau đều thần phục Trung Quốc và không đặt đế hiệu). Ngẫm nghĩ chữ “Đại Thắng” trong đế hiệu, ta có cảm tưởng như có mối liên quan gì đó với ý nghĩa chữ “Đại Bình - Hưng” trên đồng tiền “Đại Bình Hưng Bảo”... Mà theo tôi, chữ “Hưng” trong “hưng bảo” nối tiếp hai chữ “Đại Bình” có nghĩa là “phục hưng”, “trung hưng” và “chấn hưng” dân tộc Việt vậy !; bởi dân tộc ta đã từng có một nền Văn minh Đông Sơn ở châu thổ sông Hồng thuần Việt và một cuộc “đại bình” của Hai Bà Trưng (40-43) thu phục được 65 thành trì của Thiên triều Đại Hán...

- Còn tiền “Thiên Phúc Trấn Bảo” là của Lê Đại Hành (980-988), Việt Nam. Hậu Tấn - Cao Tổ (936-942) thời Ngũ Đại (Trung Quốc) đã có đúc tiền Thiên Phúc, mặt lưng không có chữ, nên Lê Đại Hành đúc tiền mặt lưng lại có chữ “Lê” để phân biệt! Chữ “trấn” chưa có tiền lệ trên tiền Trung Quốc, mà xuất hiện trên tiền vua Lê Việt Nam như ngụ ý “đại bình” đã “hưng bảo” (cũng chưa có tiền lệ trên tiền Trung Quốc) thì ta được “Thiên Phúc” (phúc của trời ban) phải ra sức mà “trấn (giữ) bảo” vậy! Và quả thật, Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn đã từng giữ nước rất xuất sắc ! Đây là những TƯ TƯỞNG LỚN của những “Thái tổ (pioneer)” và “Thái tông (builder)” được biểu hiện trên đồng tiền !

1.2. Ý kiến trên của ông XiongBaoKang không phải không có căn cứ. Lê Quý Đôn, trong Vân Đài Loại Ngữ, đã trích từ sách Tống Hội Yếu cho biết như sau: “Quan bí thư thừa là Chu Chính Thần nói: Lúc trước làm thông phán ở Quảng Châu, thấy khách thương phiên trấn thường sang Giao Châu buôn bán đem thứ tiền chữ Lê và tiền sa lạp đến Quảng Châu, làm rối loạn phép tiền tệ của Trung Quốc. Đấy là thứ tiền mà nhà Tiền Lê nước ta đã đúc ra, bề mặt đồng tiền ấy có chữ Thiên Phúc Trấn Bảo, bề lưng có chữ Lê. Đồng tiền này nay vẫn còn, nhưng ít thấy”.



2. Tiền thời dời đô và lúc định đô Thăng Long:

Cứ theo dân gian mà nói, hoặc theo “phong thủy địa lý”, thì vị trí của Thăng Long “nhất cận thị, nhì cận giang”:

Nhị Hà quanh Bắc sang Đông,

Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này.

Tuy vậy, việc định đô tại Thăng Long không phải bắt đầu từ thời Lý, hoặc do Cao Biền, tướng của nước Đại Đường đặt An Nam đô hộ phủ ở thành Đại La (sau này Thái Tổ triều Lý đổi tên là Thăng Long), mà thật ra cả ngàn năm trước người Việt cổ đã chọn nơi đây làm đô hội chủ yếu, biểu hiện ở 3 cái trống đồng Đông Sơn Heger loại I là trống đồng Cổ Loa, trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Hoàng Hạ đều nằm ở châu thổ sông Hồng, tạo nên một nền Văn minh sông Hồng...

Và quá trình đô hội, nền kinh tế hàng hóa đã được dân gian quay lại như một đoạn phim:

Sông Tô nước chảy trong ngần,
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa…

Thuyền buồm, thường là thuyền có trọng tải lớn, vận chuyển hàng hoá (tất nhiên phải kèm theo tiền tệ), chứ không phải là thuyền chài, đánh cá.

2.1. Ngay từ khi mới dời đô về Thăng Long, vua đã “xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức 8 sở...”, mà đến nay, đã tìm thấy tiền “順天大寶 (Thuận Thiên Đại Bảo)” mặt lưng có chữ “月(Nguyệt)”, chính là tiền của Lý Thái Tổ.

Chúng ta chưa hiểu rõ chữ “Nguyệt” ở lưng tiền có ý nghĩa gì, nhưng trong một cuộc trao đổi riêng, năm 2009, Giáo sư Ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn cho biết: “khoảng đời Trần “越 (Việt, nước Việt)” đã có khả năng bị thay bằng “月(Nguyệt)” trong chữ Nôm!”, và theo nghiên cứu mới đây, năm 2010, giáo sư còn cho biết thêm “chữ Nôm đã hiện diện vào thời kỳ quốc đô dời ra Thăng Long”, điều này càng làm tôi băn khoăn... Liệu có phải đây là một hình thức dùng quốc tự (chữ Nôm) tiếp tục khẳng định chủ quyền nước “Việt”, tương tự quốc tính trên những đồng tiền Đinh - Lê của Lý Thái Tổ ?! Nếu thật như vậy thì quả là độc sáng!, vì vua Lý không theo kiểu tiên triều để ghi họ mình (Lý) trên đồng tiền, mà lại ghi tên dân tộc / quốc gia “Việt” theo kiểu chữ Việt (Nôm) ! Đó cũng là sự tiếp nối của “(Đại bình) HƯNG BẢO” (một bên DỰNG NƯỚC) và “(Thiên Phúc) TRẤN BẢO” (một bên GIỮ NƯỚC), nhưng lại sáng tạo hơn nữa: TINH THẦN DÂN TỘC !

Các vị vua tiếp theo của triều Lý -Trần, tiếp tục đúc tiền, lại rộ lên một hiện tượng tiền tệ mà tại Trung Quốc thời đó và trước đó chưa hề có. Xem các loại tiền Thiệu Phong và tiền Đại Trị ta thấy kỹ thuật đúc chuẩn đẹp, đủ loại thư pháp trên đồng tiền, về mặt mỹ thuật hơn cả tiền Trung Quốc, nên là thứ quốc bảo. Và lại xem dấu vết Hoàng thành Thăng Long trong cuộc khai quật năm 2003, thật xứng là “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, hội tụ rất nhiều yếu tố, trong đó có cả tiền tệ, cho nên thứ quốc bảo này cũng là một đối tượng cướp bóc trong chiến tranh:

-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép thời Trần Phế Đế, “Kỷ Mùi (1379), tháng 9, sai quân tải tiền đồng vào núi Thiên Kiện”, hoặc “Mùa Đông, tháng 10, chôn giấu tiền ở khám Khả Lăng thuộc Lạng Sơn, sợ nạn người Chiêm Thành đốt cung điện” rồi “Mùa Đông, tháng 10 (1390, đời Trần Thuận Tông) sai thợ đá ở An Hoạch đào động ở núi Thiên Kiện và động ở núi Khuẩn Mai để lấy tiền của đã chôn khi trước”.

- Hoặc ta thấy chính sách của nước Đại Minh: “Người Minh vào Đông Đô, bắt cướp... thu lấy tiền đồng ở các xứ cho chạy trạm đưa về Kim Lăng”, nên ngày nay tiền thời Lý - Trần được tìm thấy rất ít.

2.2. Phồn hoa thứ nhất Long thành,

Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.

2.2.1. Đó chính là kết quả tái thiết có quy hoạch một đất nước mà “Sau cuộc chiếm cứ của người Minh, sản vật trong nước trống rỗng, tiêu dùng của dân thiếu thốn...”.

-Ngay khi vừa giải phóng đất nước, Thái tổ Lê Lợi ban Chiếu tiền tệ (1429) và than thở: “-Tiền là huyết mạch của dân, không thể không có. Nước ta vốn là nơi sản nhiều đồng, nhưng tiền đồng cũ ... trăm phần chỉ còn một phần, đến nay việc quân việc nước thường bị thiếu dùng... Trẫm sớm khuya nghĩ ngợi...”.

-Xem lại những cơ sở vật chất, nguyên liệu để phục hồi lại hệ thống tiền tệ Việt Nam, phần Thổ sản trong Đại Nam Nhất Thống Chí, ta thấy các mỏ kim loại phục vụ cho việc đúc tiền tệ chủ yếu ở miền Bắc. Như Bắc Ninh thì có mỏ vàng, vàng lá, sắt, đồng đỏ; Thái Nguyên thì có nhiều mỏ vàng, bạc, thiếc trắng, kẽm đen, sắt; Sơn Tây thì có đồng, sắt, gang; Hưng Hóa thì có vàng, bạc, đồng, sắt, chì; Tuyên Quang có mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, Cao Bằng và Lạng Sơn có mỏ vàng, sắt; còn ở Hải Dương thì có kẽm trắng… Cũng mục “thổ sản” còn cho biết thêm: “Đá mài tiền: sẵn ở núi Na Phù, huyện Bất Bạt, sắc đá hơi vàng, chất rám. Cục Thông Bảo dùng để mài tiền”.

Chính nhờ thế, các đồng tiền thời Lê sơ, từ Thuận Thiên Nguyên Bảo của Lê Thái Tổ cho đến tiền triều Mạc, đều rất chuẩn đẹp có khi hơn hẳn cả tiền Trung Quốc, đến nỗi Sử gia Phan Huy Chú phải khen: “-Tôi xét chế độ tiền tệ thời xưa chỉ có tiền Khai Nguyên Thông Bảo của nhà Đường rất là vừa phải... thực đáng nên bắt chước. Các thứ tiền cũ của nước Việt ta chỉ có tiền Hồng Đức, tiền Quang Thuận là gần phép ấy... Nay muốn cho việc đúc tiền được đúng mức, phải nên xa thì bắt chước tiền Khai Nguyên, gần thì bắt chước tiền Hồng Đức. Thế mới được mức nặng nhẹ vừa phải mà có thể tiện dụng cho dân”.

2.2.2. Rồi xem các đồng tiền Cảnh Hưng, ta có thể hiểu tên các trấn đúc tiền được ghi trên lưng đồng tiền như “Kinh (Thăng Long), Sơn Tây, Sơn Nam, Thái Nguyên, Bắc (Kinh Bắc - Bắc Ninh)…”.

-Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục ghi: “Quý Dậu (1753)... tháng 7... Bãi bỏ trường đúc tiền ở các trấn. Triều đình lấy cớ rằng các trấn đúc tiền phần nhiều quá lạm, lại mỏng manh, nên hạ lệnh bãi bỏ, duy trong Kinh Kỳ vẫn để lại hai trường đúc ở Nhật Chiêu và Cầu Giền giao cho viên đại thần trông coi việc này”. Thế nhưng sau đó lại ghi: “Nhâm Ngọ, năm thứ 23 (1762). Tháng giêng, mùa xuân. Đặt chức giám đốc trường đúc tiền. Bắt đầu đặt quan trông coi đôn đốc trường đúc tiền ở Nhật Chiêu, Cầu Giền và các trường đúc ở Tây Sơn, Thái Nguyên, bắt các trường đúc đều có ghi dấu khác nhau, để đề phòng việc đúc tiền quá lạm hoặc mỏng mảnh”.

-Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí không chép gì hai sự kiện trên, lại ghi khác: “Năm thứ 21 [1760], cho trấn Sơn Tây được mở trường đúc tiền... Xét: sau khi cho trấn Sơn Tây đúc tiền, từ đấy các trấn đều có trường đúc tiền...”.

2.3. Rủ nhau chơi khắp Long thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai,

Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai…

Vào khoảng thời Lê Trung hưng, thế kỷ XVII-XVIII, ở thời đại đại mậu dịch quốc tế, khi nền kinh tế hàng hoá Tây phương tràn qua Đông, những đồng tiền đồng nhỏ bé không thể đảm đương nổi vai trò phương tiện trao đổi hàng hoá, thì ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam bắt đầu sử dụng bạc nén, hoặc đồng bạc phương Tây, chẳng hạn xem Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn ta thấy:“Ở Trung Quốc tiêu bạc nhiều, tiêu tiền ít,... đàn bà trẻ con ở dân gian có mua bán vật nhỏ đều dùng bạc, thường cầm cân tiểu ly để cân từng phân hào, thuế khóa cũng thu bằng bạc không thu tiền”. Tất nhiên Trung Quốc là một thị trường rất lớn để rồi giao thoa với Đại Việt, cho nên xem nhật ký các thương gia châu Âu đến Đàng Ngoài, ta biết:

-“Voyage du Yacht Hollandais Grol du Japon au Tonkin” - 1637: “Người Bồ Đào Nha mang vào Đàng Ngoài 40.000 lạng bạc, trong có 30 thùng bạc thoi Nhật mà Hà Lan gọi là schuitzilver đưa cho chúa Trịnh để mua lụa”.

-Hoặc cũng Grol (1637) cho biết thêm: “ông ta (viên trấn thủ) bảo chúng tôi cho ông vay 5 két bạc để mua hộ cho chúng tôi tơ và quế”.

- Trong “Un voyage au Tonkin en 1688”, Dampier cho biết:“Công việc đổi bạc ở đây là một nghề quan trọng…”.

-Giáo sĩ Jérôme Richard đến Đàng Ngoài khoảng năm 1726, trong quyển “History of Tonquin” có kể: “Vàng bạc được dùng khi mua bán với số lượng lớn hay để dâng hiến cho vua hoặc các quan. Có một ít đồng tiền vàng hay bạc được mang đến từ Nhật Bản do người Trung Quốc, Anh, Hà Lan cũng được dùng trong việc ngoại thương”…

-Phan Huy Chú còn chép trong Lịch Triều Hiến Cương Loại Chí như sau: “Hiển Tông, năm Cảnh Hưng thứ 1 (1740), định phép tiền và bạc cùng thông dụng. Từ trung hưng trở đi, trong nước chuyên dùng tiền đồng, còn bạc nếu không đủ một dật thì không tiêu, nên giá bạc có hạ... Nay… cho tiền và bạc đều thông dụng cả… Ở chợ đặt người trưởng chợ xét bạc thật bạc giả để mua bán…”.



Vài điều dẫn trên cho thấy các loại tiền tệ bằng bạc được lưu hành tại Thăng Long, mà chủ yếu là các đồng bạc phương Tây, hoặc bạc nén hình móng ngựa của Trung Quốc, Nhật Bản mà các nhà sưu tập đã tìm thấy. Và do nhu cầu hối đoái, khoảng thế kỷ XVIII xuất hiện đường phố ở gần hồ Hoàn Kiếm có chức năng đổi từ bạc nén hoặc đồng bạc phương Tây sang tiền đồng để dân dễ sử dụng. Đó là Hàng Bạc, mà thời Pháp thuộc, trước 1945 vẫn còn có tên là “Rue des Changeurs (đường của những người đổi tiền)”. Và theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, sau này, khoảng sáu bảy chục năm nay, do không còn sử dụng tiền bằng bạc, phố Hàng Bạc chuyển sang chức năng làm hàng mỹ nghệ vàng bạc, nữ trang: “Hàng Đào ríu rít, Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Ngang…”…



3. Vẫn mãi là trung tâm của tiền tệ:

Đầu thế kỷ XIX, vua Gia Long đổi chữ Hán tên thành Thăng Long: “Ất Sửu, Gia Long năm thứ 4 (1805)... Tháng 8... Đổi thành 昇 龍 (Thăng Long: rồng bay lên) làm thành 昇 隆 (Thăng Long: ngày càng thịnh vượng)” cũng rất có ý nghĩa về mặt phát triển kinh tế đô thị, và càng cho thấy vai trò của Thăng Long - Hà Nội trong việc sản xuất và điều phối tiền tệ cho cả nước, dù kinh đô Việt Nam thời ấy là ở Huế:

3.1. Khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, ông đã cho mở cục đúc tiền ở Huế, có chức năng tạo mẫu, đúc ra tiền mẫu theo quy định của triều đình, còn nơi chính thức sản xuất tiền là cục Bảo tuyền Bắc thành: ở hồ Thuỷ Quân cũ mà ngày nay gần hồ Hoàn Kiếm vẫn còn địa danh là “phố Tràng Tiền”. Đây là cục đúc tiền lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ, và là nơi cung cấp tiền tệ cho cả nước sử dụng. Xem Đại Nam Thực Lục, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục… ta thấy ghi chép việc mở cục Bảo tuyền Bắc thành, dựng kho chứa tiền, đúc tiền và vận chuyển tiền vào Kinh rất chi tiết, xin dẫn vài sự kiện đầu thời Gia Long như sau :

-“Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 (1803)... Tháng 5... Hộ bộ Bắc Thành là Nguyễn Văn Khiêm vào chầu... Văn Khiêm lại nói sau việc binh cách dân gian thiếu tiền, xin đúc thêm để nhà nước đủ dùng...”.

-“Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 (1803)... Mùa đông, tháng 10,... Mở cục đúc tiền Bắc Thành, lấy Cai cơ Nguyễn Văn An làm Giám đốc, Lê Duy Đạt làm phó. Sai những người thợ đúc tiền đều mua sắm đồng riêng dựng lò để đúc, y theo kiểu mẫu đồng tiền mới đúc mà đúc”.

-“Ất Sửu, Gia Long năm thứ 4 (1805), mùa xuân, tháng giêng... Chở 100 vạn quan tiền kho Bắc Thành đến Nghệ An để chuyển nộp vào Kinh sư”.

…Chính thế, ta thấy trên lưng đồng tiền của vua Nguyễn không hề ghi địa danh nào của Kinh sư, mà lại ghi “Hà Nội, Sơn Tây”! Cũng như rất nhiều thỏi bạc 10 lượng thời Minh Mạng vẫn ghi nơi sản xuất là “Hà Nội”.

3.2. Và ngay cả khi kỹ thuật đúc tiền của triều Nguyễn tại Bảo hóa Kinh cục bị trục trặc, triều đình đã điều thợ đúc ở cục Bảo tuyền Bắc thành vào Huế để phục hồi kỹ thuật đúc tiền: “Giáp Thân, Kiến Phúc năm 1, tháng 10… định lệ tiền… Tháng 11, mở cục đúc tiền ở Nha Đốc công kho Vũ Khố. Trích sai tên thợ làm khuôn ở Hà Nội, một tên thợ đúc đem đủ các đồ dùng về kinh để dạy tập đúc tiền…”.

*

4. “Hà Nội là trái tim của cả nước”. Đó là nhận định của Le Grand de Liraye ngay từ thế kỷ XIX, lúc mà kinh đô của Việt Nam đã nằm ở Huế !

4.1. Nhiều năm trước, khi nghe ông XiongBaoKang nói về việc tìm thấy rất nhiều tiền Đinh - Lê ở Hoa Nam (Trung Quốc), nhưng ông lại luôn sưu tầm tiền Lý - Trần (nhất là thích mua đồng tiền của Lý Thái Tổ), tôi vẫn thường thắc mắc tại sao ở đó chỉ có tiền Việt trước Chiếu dời đô chứ hầu như không gặp các loại tiền sau Chiếu dời đô ??? Nay nhân chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long (1010 - 2010), đọc lại Chiếu dời đô, thấy Thái tổ Lý Công Uẩn nói: “-Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chổ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời…”. Thì ra bây giờ mới hiểu, với cách nhìn của địa - kinh tế tiền tệ học, thì rõ ràng:

-Thời Đinh - Lê, đô đóng ở Hoa Lư vì là quê nhà của Đinh Tiên Hoàng, là căn cứ quân sự hiểm yếu, chật hẹp, núi non hiểm trở, mà theo Lý Thái Tổ nói là “muôn vật không hợp, trăm họ tổn hao”, nên thương gia Trung Quốc không thể đem hàng hóa đến buôn bán ở đây. Chính thế, ở Hoa Lư không sản xuất hàng hóa mà chủ yếu đúc tiền để đi mua hàng hoá ở Trung Quốc đem về sử dụng, và như vậy tiền Đinh - Lê tràn ngập Hoa Nam. Nhưng sau khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, “là chổ hội quan yếu của bốn phương”, lại có một thương cảng Vân Đồn nổi tiếng ở Quảng Ninh, cửa ngõ chính để vào Thăng Long, cho nên nền kinh tế hàng hóa đã phát triển ở Thăng Long, những đồng tiền triều Lý - triều Trần chỉ lưu hành “nơi thượng đô kinh sư” chứ hầu như rất ít lưu hành sang nước ngoài...

-Mà nguồn nguyên liệu để đúc tiền cho “chổ hội quan yếu” này chính là:

Đồng Tụ Long, thiếc Sông Ngâu,

Tiền rừng bạc bể kể đâu sánh bằng.

Thì đau đớn thay (!!!), do hiệp ước Giáp Tuất (1874) ký giữa Mãn Thanh - Pháp, mỏ đồng Tụ Long (thời Lê Quý Đôn cho đến cuối thế kỷ XVIII vẫn còn thuộc lãnh thổ Đại Việt) đã bị vào lãnh thổ Vân Nam cách biên giới Việt - Trung hiện nay trên 20 km rồi !!!

4.2. Riêng phát hiện việc giải thích ý nghĩa chữ “Nguyệt” trên lưng đồng tiền của Lý Thái Tổ, và việc sử dụng và hoàn chỉnh chữ Nôm, từ đó đặt ra một vấn đề cần giải mã lại quốc hiệu “Đại Cồ Việt” có phải là chữ Nôm không (?), cũng là chuyện rất cần! Bởi đã có người cho rằng tôi “cổ súy tinh thần dân tộc một cách cực đoan”, nhưng rõ ràng xưa nay chưa ai có thể giải thích được ý nghĩa xác đáng sự xuất hiện của chữ “cồ” trong quốc hiệu này, cũng như sự xuất hiện của chữ “nguyệt” trên đồng tiền !!!

4.3. Còn việc nghiên cứu những lô tiền trong cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long - theo thuyết trình của GS Phan Huy Lê ngày 16/5/2010 tại Huế, cho biết có đủ cả tiền thời Lý Trần Lê - chúng tôi thiển nghĩ, ngoại trừ sử dụng cách thức theo từng hồ sơ khảo cổ học, cũng rất cần tham khảo ý kiến những nhà sưu khảo giàu kinh nghiệm từng vọc tiền cổ trên tay thì việc giám định tiền cổ mới chính xác, và từ đó sẽ có các nhận định mới về lịch sử Việt Nam:

Cố đô rồi lại Tân đô,

Nghìn năm văn vật bây giờ là đây…
A Lưới, mùa Phật đản 2010.

NguyenAnhHuy * CHÚ THÍCH :

(*) Theo Đại Việt Sử ký toàn thư in năm 1697 chép quốc hiệu thời Đinh là “Đại Cồ Việt”, nhưng khảo cổ học đã tìm thấy những viên gạch thế kỷ X tại Hoa Lư ghi quốc hiệu là “Đại Việt quốc quân thành chuyên”. Chúng tôi lấy quốc hiệu thời Đinh là “Đại Việt” theo viên gạch, còn tại sao sử ghi là “Đại Cồ Việt” thì sẽ có một chuyên khảo khác sau.




(NguyenAnhHuy-www.khoahoc.net)

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Về đồng tiền Thuận Thiên Đại Bảo của Vua Lý Thái Tổ

Vào tháng 10/2010, tại Triển lãm Thành tựu kinh tế quốc dân nhân dịp chào đón 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, gian trưng bầy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có một bộ sưu tập tiền được xem là lớn nhất từ trước đến nay (có đủ các loại hình tiền Việt Nam từ năm 970 đến ngày nay), với chủ đề tôn vinh nghệ thuật đúc tiền thời phong kiến, đồng tiền Thuận Thiên Đại Bảo của Vua Lý Thái Tổ xứng đáng được chúng ta ngưỡng mộ.

Thời nhà Lý (1010 – 1225) có 9 đời Vua thì 5 đời Vua có đúc tiền. Thư tịch cổ không thấy ghi chép gì về tiền thời Lý, người ta phải đoán định chủ yếu thông qua những dòng sử liệu ít nhiều liên quan đến tiền tệ, nhưng cũng chỉ hiểu được tiền tệ thời Lý đã được lưu hành khá thường xuyên do việc giao thương khá phổ biến với Trung Quốc. Tuy vậy, đồng tiền đúc thời Lý để lưu thông tiêu dùng vẫn còn rất hạn chế, mà chủ yếu tượng trưng cho việc lên ngôi trị vì. Mặt khác, các đời Vua triều Lý tôn sùng Phật giáo, coi Phật giáo là “Quốc giáo”, nên mọi tiềm năng của quốc gia gần như chỉ phụng sự đạo giáo, nguyên liệu đồng và các kỹ thuật đúc, chạm khắc cũng đều phải tập trung trước hết cho nhà chùa.

Triều Lý truyền được 9 đời, 260 năm với Quốc hiệu Đại Việt.

Từ một ông quan trong triều Lê, Lý Công Uẩn được tôn lên ngôi Thái Tổ Hoàng Đế (tức Lý Thái Tổ) và trở thành ông Vua đầu tiên của triều Lý. Ngay sau khi lên ngôi, ông dời Đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội). Trên đường tiến vào thành, nhìn thấy rồng vàng bay lên phía chân trời, ông cho là điềm báo tốt lành liền đổi tên Đại La là Thăng Long và đặt niên hiệu là Thuận Thiên (1010- 1028). Thái Tổ là ông Vua thông tuệ, nhân hậu. Nhiều phép nước, luật tục cổ hủ của nhà tiền Lê trước đó đã được sửa đổi, ông chia nước thành 24 lộ, định lại 6 hạng mục thuế...

Phần trưng bầy Tiền Việt Nam có đóng góp rất lớn của nhà sưu tầm Nguyễn Văn Thạo

Khi còn nhỏ, Lý Công Uẩn đã từng được sư Vạn Hạnh nuôi dưỡng và dạy học nên sau này làm Vua, tư tưởng Phật giáo luôn là nguồn cảm hứng trong cách thức hành sử việc nước. Ông thường trọng đãi những người tu hành, xây cất nhiều chùa, thỉnh kinh Tam Tạng về phổ biến trong chúng sinh. Trong 19 năm tại vị, ông đã cho đúc loại tiền Thuận Thiên Đại Bảo với sự tiếp thu tinh hoa từ các đặc điểm của những đồng tiền trước đó và cũng coi trọng sự khác biệt với tiền Trung Quốc bởi tên gọi “Đại Bảo”.

Cũng giống các triều đại Vua Chúa phong kiến Việt Nam khác, Thuận Thiên Đại Bảo là tiền kim loại dạng hình tròn có lỗ vuông ở chính giữa và văn tự trên đồng tiền là chữ Trung Quốc. Đơn vị cơ bản của tiền thời Lý là quan, tiền và đồng, theo đó, đồng là đơn vị nhỏ nhất. Cứ 1 quan là 10 tiền và 1 tiền là 60 đồng; như vậy 600 đồng xu tròn lỗ vuông là 1 quan. Tuy nhiên, mối tương quan này cũng có thể thay đổi ít nhiều theo từng thời do kết quả thịnh suy của nền kinh tế đem lại.

Vào đầu thế kỷ 19, nhà sử học Phan Huy Chú, trong phần Quốc dụng chí của bộ sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí cũng viết và bình luận những lần phát hành tiền từ thời Lý đến hết thời Lê Trung Hưng, ông cho rằng, các đồng tiền kim loại của Việt Nam giai đoạn này đã đạt đến trình độ nghệ thuật khu vực, có thể sánh ngang với tiền Khai Nguyên Thông Bảo của nhà Đường Trung Quốc. Những đồng tiền này có trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram, không quá dày nặng và không quá mỏng nhẹ, dễ gẫy.

Chúng ta nên nhớ rằng, ở thời này, mọi thứ từ việc tạo khuôn đúc, cách pha chế kim loại đồng và tiến hành các công đoạn đúc hoàn toàn là thủ công. Việc đúc tiền dựa trên kinh nghiệm của một số thợ hàng đầu các phường đúc thời đó, những người này có nhiều đặc quyền và được hưởng nhiều bổng lộc từ triều đình, để chỉ có một việc là duy trì cách thức đúc tiền khi Vua cần.

Việc đúc tiền không căn cứ trên giá trị thước đo của nền kinh tế, nên khái niệm “lạm phát” cũng vì thế hoàn toàn không có. Đúc nhiều tiền không có nghĩa trình độ nền kinh tế- xã hội có dấu hiệu phát triển. Thời phong kiến, mối quan hệ về thị trường hàng hóa với tiền tệ chưa đủ để thúc đẩy việc hình thành một phương thức sản xuất mới. Việc đúc tiền là hoàn toàn chiểu theo ý chỉ của Vua. Vì vậy ở thời Lý, vai trò của đồng tiền chỉ mang ý nghĩa biểu tượng vương triều, tiền trong lưu thông còn hạn chế, tiền Trung Quốc cùng thời vẫn chiếm chủ đạo.

Là biểu tượng của vương triều, đồng Thuận Thiên Đại Bảo mang trong nó nhiều ý nghĩa mỹ học. Cũng chính vì vậy, giới sưu tầm đánh giá rất cao về vẻ đẹp tinh tế cùng chất liệu bền, dẻo dai trường tồn qua năm tháng. Đến nay, sau hàng 1000 năm, nhiều đồng Thuận Thiên Đại Bảo vẫn còn rất hoàn hảo. Giá trị của chúng trên thị trường tự do cũng vì vậy thường cao hơn, thậm chí cả những đồng có niên đại trước đó.

Nghiên cứu về thời Lý với nguồn tư liệu mặc dù còn hạn chế, nhưng với những đồng tiền của thời kỳ này, đặc biệt là đồng Thuận Thiên Đại Bảo đã đóng góp rất nhiều cho nghệ thuật đúc tiền thời phong kiến Việt Nam thêm phong phú, đa dạng.
(http://www.sbv.gov.vn)

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Tiền giấy thời nhà Hồ

Mặc dù thời gian tồn tại ngắn ngủi (1400 - 1407) nhưng nhà Hồ đã tiến hành nhiều cuộc cải cách kinh tế, trong đó có cải cách tiền tệ, đánh một dấu ấn quan trọng trong lịch sử tiền tệ Việt Nam.
Lần đầu tiên phát hành tiền giấy
Nhà Hồ lên ngôi trong hoàn cảnh đất nước khá đặc biệt: Nhà Trần suy yếu, đất nước kiệt quệ, bên ngoài thì nhà Minh dòm ngó tìm cách xâm lăng nước ta. Trước hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly, một viên quan có tư tưởng tiến bộ tìm mọi cách phục hưng đất nước.
Trưởng thành từ một quan đại thần với quan hệ thân tộc con rể vua Trần Minh Tông, sau nhiều năm củng cố lực lượng, Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần tự lập làm vua, mở đầu triều đại nhà Hồ trong lịch sử.

[Thành nhà Hồ]
Trước đó, năm 1394 ông đã được Thái thượng hoàng nhà Trần bật đèn xanh: "Sau khi Trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua"
Cùng với việc cải cách quân sự, những cuộc cải cách kinh tế được tiến hành, việc đầu tiên là phát hành tiền giấy. Năm 1396: "Mùa hạ tháng 4, bắt đầu phát tiền giấy Thông Bảo hội sao.
In xong ra lệnh cho người đến đổi, cứ một quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất tài sản bị tịch thu. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả".
Đây là lần đầu tiên tiền giấy xuất hiện ở Việt Nam. Đồng tiền phát hành có hai yếu tố mới. Tiền không ghi niên hiệu vua. Đây là một phép thử ngoại lệ trong tiền tệ Việt Nam khai tử niên hiệu của triều đại Trần, chuẩn bị cho một triều đại mới.
Chất liệu tiền là giấy chưa hề có trong tiền lệ lịch sử chế tác tiền Việt Nam. Tiền giấy sẽ góp phần giúp cho nhà Hồ thu về số lượng đồng lớn dùng để đúc vũ khí, đặc biệt là súng thần công, một loại binh khí mới được ra đời trong thời gian này. Chính vì thế, tiền giấy được nhà Hồ phát huy hiệu quả triệt để thời gian khi cầm quyền.
Lịch sử của tiền giấy
Tiền giấy có nguồn gốc từ tờ giấy Khoán thời Đường, do tiền đồng nặng khi sử dụng số lượng lớn không thuận tiện nên sáng tạo ra tờ Khoán dùng "để nhận tiền thực, đổi tiền giấy, nhận tiền giấy đổi tiền thực" có giá trị như tiền cho dễ mang đi trao đổi. "Thời Tống gọi là giao hội, đời Kim mới gọi là sao".
Đời Tống, bộ lạc Nữ Chân vì ít đồng nên theo tờ Giao hội làm ra tiền giấy. Nhà Trần giai đoạn cuối cũng sử dụng tờ Hội giao thay tiền và Hồ Quý Ly đã phát triển từ Hội giao thành tiền giấy vừa tiết kiệm đồng vừa thuận lợi trong giao thương.
Cho đến nay, chúng ta chưa tìm được đồng tiền giấy nào cho nên chưa rõ kích thước, chất lượng giấy, kỹ thuật in ấn, cách thể hiện hình vẽ mà chỉ biết được qua ghi chép trong lịch sử.
Nhưng những hiện vật thời Trần tìm được qua các cuộc khai quật khảo cổ học như hình rồng, thủy ba (sóng nước), tản vân (vân mây) khắc tạc trên các bệ đá thời Trần đã phần nào cho biết sự phức tạp của các họa tiết trang trí trên đồng tiền này. Tiền giấy cũng cho thấy, nghề sản xuất giấy có sự phát triển đặc biệt với kỹ thuật cao sản xuất ra loại giấy để in tiền.
(Sưu tầm)

Tiền xưa với người nay

Tiền cổ, cũng như những cổ vật khác, khiến nhiều người “chết mê chết mệt” bởi chứa đựng những giá trị lịch sử độc đáo. Từ đồng tiền cổ nằm lọt thỏm trong lòng bàn tay, hậu thế có thể biết được sự biến thiên của lịch sử qua từng giai đoạn, cả những dâu bể đời người, những vương triều trầm luân, hưng phế theo thời gian.
* Công phu nghề chơi

Hầu hết những người sưu tầm tiền cổ tôi gặp đều nói rằng họ đến với thú chơi này là vì thích, đam mê. Rằng những đồng tiền cổ bằng kim loại hình tròn có lỗ vuông ở giữa như có một “ma lực” nào đó khiến người ta có thể bỏ ăn bỏ ngủ dành hàng giờ để ngắm chúng, cất công lặn lội khắp nơi để sưu tầm, trao đổi.

Giá trị của một bộ sưu tập là đủ bộ, vì vậy những người chơi tiền cổ luôn tìm mọi cách để hoàn thiện bộ sưu tập của mình. Tuy nhiên, không phải loại tiền nào cũng có thể dễ dàng tìm được, dù tiền là một vật khá phổ biến. Bởi từ đồng tiền cổ đầu tiên của Việt Nam là Thái Bình Thông Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng đúc cách đây hơn 1.000 năm đến đồng tiền xu cuối cùng của vua Bảo Đại là Bảo Đại Thông Bảo thì cũng đã không còn được lưu hành cách đây hơn 60 năm. Đặc biệt, những đồng tiền ra đời gắn với một sự kiện lịch sử nào đó, hay được phát hành với số lượng ít, những đồng tiền cái (tiền làm mẫu do vua đưa về cho các địa phương đúc tiền), tiền thưởng vua ban thì lại càng quý hiếm.

Anh Nam Phương - một người sưu tầm tiền cổ ở Quy Nhơn - cho biết bộ sưu tập của anh có đủ tiền của các triều đại Việt Nam, từ nhà Đinh (thế kỷ X) đến nhà Nguyễn (thế kỷ XX), nhưng lại vẫn… thiếu. Là bởi anh vẫn chưa sưu tầm đủ tiền của các đời vua của tất cả các triều đại. Chính vì thế, chơi tiền cổ, với anh là một hành trình tìm kiếm. Đó là một hành trình khó khăn, đòi hỏi người chơi phải bỏ thời gian, công sức và cả tiền bạc. Như để có được đồng Thánh Nguyên Thông Bảo của Hồ Quý Ly, anh Nam Phương đã đổi một số đồng giá trị của mình như đồng Quang Trung Thông Bảo 2 mặt (tức 2 mặt đúc giống như nhau), Cảnh Thịnh Thông Bảo 2 mặt, Quang Trung Nhị Nguyệt… Đến nay, Thánh Nguyên Thông Bảo là đồng giá trị nhất trong bộ sưu tập của anh Phương, bởi giá hiện nay trên thị trường đồ cổ của đồng này là khoảng 30 triệu đồng.

Cũng chơi tiền cổ nhưng anh Đức Luân - giảng viên Trường ĐH Quy Nhơn - thì sưu tầm cả tiền Việt Nam và tiền Trung Quốc. Mang một túi nylon các đồng xu cũ kỹ, rỉ ten đồng ra, anh Luân khoe vừa mới đi Tây Sơn mua được cả trăm đồng tiền cổ, với giá 1.000đ/đồng. Trong số này, theo anh, giá trị nhất là một đồng Cảnh Thịnh Thông Bảo bị lỗi do nhảy khuôn, vì tiền bị lỗi rất hiếm. Trước đó, để có được đồng Quảng Hòa Thông Bảo của nhà Mạc - một mẫu tiền hiếm vì số lượng ít và thời nhà Mạc là thời kỳ lịch sử có nhiều biến động - anh Luân đã đổi một số mẫu tiền trong bộ sưu tập của mình, với trị giá nếu tính ra tiền là khoảng 600 ngàn đồng.

Để sưu tầm tiền cổ, ngoài những cách thức như mua bán, trao đổi, tìm kiếm từng đồng, những người chơi còn “mua sỉ” tiền cổ theo kiểu may rủi từ những người đi rà kim loại phế liệu. Nếu may mắn, họ có thể tìm được những đồng quý hiếm. Trong lần mua 1 chum tiền cổ 6kg ở Quảng Trị với giá 1,2 triệu đồng, anh Nam Phương đã may mắn tìm thấy 5 đồng Bảo Hưng Thông Bảo của vua Nguyễn Quang Toản - đời vua cuối cùng của nhà Tây Sơn. Sự tình cờ này đã giúp anh có đủ bộ tiền thời Tây Sơn, bởi đồng Bảo Hưng Thông Bảo khá hiếm nên không phải ai cũng có được.

Và mỗi khi có được một mẫu tiền cổ nào đó, những người sưu tập lại cất công tìm hiểu “lý lịch” của nó. Từ mỗi đồng tiền lại mở ra những câu chuyện thú vị.


Tiền thưởng của vua ban trong bộ sưu tập tiền cổ của anh Nam Phương.



* Chơi tiền cổ “được” gì

Tôi đem điều này hỏi những người sưu tầm, chơi tiền cổ, và nhận được câu trả lời là “chẳng được gì cả”. Thật ra, cái “được” nằm ở những giá trị tinh thần, còn lợi ích vật chất thì cũng có nhưng những người thật sự say mê tiền cổ không đặt nặng.

Khác với những loại cổ vật khác như đồ gốm sứ, đồ đồng, đồ gỗ… là vật dụng, tiền là một phương tiện thanh toán. Mỗi triều đại ngày xưa lại cho ban hành những loại tiền khác nhau, nên thông qua “lý lịch” của từng đồng tiền như: sự ra đời, vị vua ban hành, thời gian, cách thức lưu hành…, người ta có thể biết được khá nhiều về thời kỳ lịch sử đó, từ kinh tế đến chính trị, xã hội, văn hóa, từ những chuyện được sử sách chính thống ghi chép đến những giai thoại truyền miệng thú vị. Và chính điều đó mới là yếu tố khiến những đồng tiền cổ rỉ ten đồng xanh đỏ, chồng chất màu thời gian như “bỏ bùa” những người trót đam mê nó.

Anh Đức Luân, mỗi khi sưu tầm được một đồng tiền cổ liền tra sách, lên mạng tìm thông tin xem nó thuộc thời kỳ nào, vua lên ngôi ra sao, đặc điểm tình hình KT-XH lúc đó. Anh nói: “Cầm đồng tiền là biết được triều đại đó hưng vong thế nào. Đồng tiền nhỏ, mỏng, chất lượng đồng kém chứng tỏ nền kinh tế thời đó đi xuống. Đồng tiền đầy đặn, sắc sảo chứng tỏ là thời thái bình thịnh trị, như tiền của triều Lê sơ. Tiền thời Tây Sơn thì tinh xảo nhưng mỏng hơn tiền những triều đại trước vì vua ưu tiên để dành đồng đúc vũ khí”. Tương tự, anh Nam Phương nói rằng những đồng tiền cổ đã giúp anh có thêm hiểu biết về lịch sử, văn hóa, tình hình giao thương của các triều đại Việt Nam trong lịch sử.

Còn với anh V.Đ.L. - một người yêu thích tiền cổ và đã sưu tầm tiền của một số quốc gia trên thế giới, tiền Đông Dương, tiền miền Nam Việt Nam trước 1975 - thì bộc bạch: “Cái “được” cũng thật khó nói, chẳng qua là lưu giữ một nét văn hóa của người xưa mà thôi. Điều thú vị mà tiền cổ mang lại cho tôi thật đơn giản, cũng như ta có một giò lan đẹp, một tách cafe ngon hoặc như trò chuyện cùng một người tri âm”.

Với một người chơi tiền cổ khác xin không nêu tên thì đây giống như một nhu cầu tinh thần, cũng như người khác mê nhạc, say thơ. Điều thú vị mà những đồng tiền cổ mang lại là mỗi khi anh phát hiện người xưa đã dùng đồng tiền ấy như thế nào. Một đồng tiền bị cháy, đồng bị chảy ở lỗ vuông thì nhiều khả năng đã được dùng như một vật chặn ngang đầu tim đèn của dĩa đèn dầu thời xưa. Những đồng có dính một chút vàng thì nghĩa là nó đã từng được chôn cùng vàng, nên nó có thể đã trải qua những dâu bể đời người bởi loạn lạc hay binh đao lửa đạn. Cũng có khi, anh tìm được những mẫu tiền mà sử liệu không hề nhắc đến. Lúc ấy, đồng xu nhỏ lại chứa một ẩn số lớn thôi thúc anh phải đi tìm cho bằng được lai lịch của nó.

Và như đã nói, tiền cổ hấp dẫn người chơi bởi biết “kể” những câu chuyện đầy thú vị. Như “chuyện kể” của đồng Quang Trung Thông Bảo 2 mặt, rằng: Vào năm 1788, khi chuẩn bị tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh, tại lễ đăng quang ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ lập kế để động viên quân sĩ. Sau lúc làm lễ, ông cho mang đến một cái mâm đựng nhiều tiền, rồi tuyên bố với quân sĩ: “Nếu cả 200 đồng tiền này đều sấp, thì đó là điềm trời báo chúng ta đại thắng. Nhược bằng, có đồng ngửa, thì đó là đại sự của chúng ta có điều trắc trở”. Sau khi khấn vái, Nguyễn Huệ bưng mâm tiền hất tung xuống sân. Quân sĩ thấy các đồng tiền nhất loạt đều sấp, reo hò mừng rỡ, tin chắc trận ra Bắc sẽ thắng quân Thanh.

Kỳ thực, Nguyễn Huệ đã sai đúc 200 đồng tiền có 2 mặt đều là mặt sấp.


Anh Nam Phương với bộ sưu tập tiền cổ các triều đại Việt Nam của mình.



* Chuyện của người trong cuộc

Những người chơi tiền cổ vì đam mê (để phân biệt với người chơi theo hướng kinh doanh) không bao giờ trao đổi hay bán những đồng giá trị mình có, dù giá có thể rất cao, trừ phi cùng một mẫu có nhiều hơn 1 đồng. Với họ, những đồng độc đáo đó mới chính là linh hồn của bộ sưu tập.

Vậy mà, V.Đ.L., dù chỉ nhận rằng: “Đến giờ, thú chơi tiền cổ ở tôi chỉ ở mức chút xíu, chưa đủ đam mê để bỏ tiền ra “mua”, cũng không tránh khỏi nỗi buồn khi nhớ lại mình đã “vì có lúc quẫn bách, đem bán tiền xưa mà lấy tiền nay”.

Rồi một người chơi tiền cổ khác, dù có hẳn 1 weblog về tiền cổ, nhưng nhất quyết không cho đưa tên mình lên báo, vì không thích như vậy. Anh là một người sưu tầm tiền cổ đầy tâm huyết với lối chơi lãng tử pha lẫn chút kiêu bạc. Anh gắn bó với những đồng tiền cổ từ hơn 30 năm nay, và với anh, mỗi đồng đều chất chứa trong nó những kỷ niệm. Nên dù có trong tay một số mẫu tiền cổ Việt Nam quý hiếm và từng có một người chơi tiền cổ tận Mỹ tìm sang để mua với giá cao, anh vẫn nhất định không bán.

Tiền cổ vẫn đang kể những câu chuyện bất tận của mình về cuộc sống, nhân tình thế thái. Và chỉ những người đam mê tiền cổ mới thật sự biết lắng nghe.

Nguyên Sương
(http://www.baobinhdinh.com.vn)

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Tìm thấy đồng tiền Minh Mạng thông bảo

Đồng tiền Minh Mạng thông bảo hiện đang được lưu giữ tại dòng tộc họ Lê thuộc xã Sơn Bình, H.Hương Sơn (Hà Tĩnh) là đồng tiền của triều vua Minh Mạng năm thứ 15 (1834) ban thưởng cho dòng tộc họ Lê. Đồng tiền được chế tác bằng bạc (thường gọi là bạc thịt) có đường kính 4 cm.
Nội dung

Một mặt đúc nổi 4 chữ Hán “Minh Mạng thông bảo”, chính giữa đồng tiền có một núm nhỏ và xung quanh có 15 tia tỏa ra với khoảng cách đều nhau và mép viền ngoài của đồng tiền có 145 vạch nổi. Còn một mặt đúc nổi hình một con rồng có 4 chân đang trong thế vờn, phía dưới đúc nổi 2 chữ Hán “Ngụ thập” và viền mép ngoài cũng có 145 vạch nổi.

2 mặt của đồng tiền

Được biết, đồng tiền trên là một trong 5 đồng bạc của triều vua Minh Mạng thứ 15 (1834) ban thưởng cho dòng tộc họ Lê vì đã có công cùng triều đình cứu tế nhân dân trong một dịp mất mùa, đói kém. Hiện đồng tiền còn được bảo lưu nguyên vẹn, được các nhà chuyên môn đánh giá là một trong những đồng tiền thuộc nhóm tiền cổ quý được tìm thấy ở Hà Tĩnh. Đồng tiền Minh Mạng thông bảo trên còn được gọi là đồng Minh Mạng Phi long.

Tin, ảnh: Trương Hoa
(www.thanhnien.com.vn)

Những đồng tiền Nguyên Phong của Trần Thái Tông

..Người lính già đầu bạc,

Kể mãi chuyện Nguyên Phong...

Giặc Phật: hào hứng người xưa. Tiền cổ: bàn cãi đời nay... Tuy chỉ một hiệu tiền Nguyên Phong Thông Bảo, nhưng các nhà sưu tập đã tìm thấy hàng trăm loại có kích thước, chất liệu, thư pháp, đặc điểm và các nét chi tiết khác nhau. Chúng do ai đúc?

Niên hiệu Nguyên Phong thì chỉ gặp ở ba vị vua: Hán Vũ Đế (110-105 tr.CN), Tống Chân Tông (1078-1085), Trần Thái Tông (1251-1258). Chắc rằng Hán Vũ Đế không đúc tiền Nguyên Phong vì thời này tại Trung Quốc đang còn sử dụng hệ thống tiền Bán Lạng, Ngũ Thù. Các nhà nghiên cứu tiền cổ trên thế giới đều công nhận cả hai vị vua Tống và Trần đều có đúc tiền Nguyên Phong, nhưng là loại tiền nào thì cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất.

Ở Nhật Bản, vào niên hiệu Vạn Trị (Manji) thứ hai (1659) cũng có đúc nhiều loại tiền Nguyên Phong bằng đồng thau, nhưng chúng có những đặc điểm của tiền Nhật Bản đương thời như lỗ vuông rộng, vành đều đặn, vành của lỗ vuông ở mặt lưng thì bè rộng... thêm nữa, các Hán tự viết trên đồng tiền đều là kiểu chữ của Nhật đã cải biến như chữ “phong” viết giản lược ít nét chứ không phức tạp đa nét như chữ Hán trên đồng tiền Trung Quốc và Việt Nam.

Tất cả những đồng tiền Nguyên Phong Thông Bảo đều được đọc tròn. Chúng ta bắt đầu từ chữ “nguyên” nằm phía trên, và được biết Tống Chân Tông đã cho đúc tiền bằng đồng thau được viết theo cả ba lối chữ chân - triện - thảo, ngày nay rất dễ tìm thấy trong những lô tiền thời Tống.

Sách của TingFuBao, Miuria Gosen đều có giới thiệu hai mẫu tiền Nguyên Phong viết theo lối triện và giám định là của Trần Thái Tông. Tôi đồng ý với sự giám định đó.

Có một số loại tiền Nguyên Phong bằng kẽm, người thì cho là tiền Đại Tống, người thì xếp vào thời Trần, người cẩn thận thì chú là “unknown, inconnu...” hoặc “vô khảo phẩm, bất tri niên đại phẩm...”, riêng tôi thì cho rằng đó là tiền kẽm do chúa Nguyễn Phúc Khoát mua kẽm trắng của Hà Lan đúc tiền từ năm 1746.

Một vài đồng tiền Nguyên Phong bằng đồng đỏ, đường kính khoảng 22mm, đã phủ lớp gỉ nâu đen, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng chúng được đúc tại An Nam nhưng không xếp được thời đại. Tôi giám định là tiền của chúa Nguyễn Phúc Thụ mua đồng đỏ của Nhật Bản đúc từ năm 1725.

Ngoài ra, còn rất nhiều loại tiền Nguyên Phong khác viết theo thư pháp lạ, kỹ thuật đúc không cẩn thận nên rất khó phân loại, ý tôi cho rằng chúng do dân gian đúc vào thế kỷ XVIII, vào thời đại mà nền kinh tế hàng hóa phát triển, mở cửa ngoại nhập... vấn đề đúc tiền thời các chúa Trịnh - Nguyễn không được quy hoạch...

Trở lại hai mẫu tiền của Trần Thái Tông, đúc bằng đồng thau, đường kính 23mm, rất giống loại tiền viết theo lối triện của Đại Tống. Xin chỉ rõ mấy nét để phân biệt:

- Chữ “nguyên” cũng viết triện như trong đồng tiền Đại Tống nhưng ở đồng tiền Trung Quốc thì bộ “nhân” viết hai nét rời và đồng quy vào nét nhất ở trên; trong khi ở đồng tiền Đại Việt thì hai nét này liền nhau tạo như một nét và có đoạn ngang hoàn toàn tách rời song song với hai nét nhất ở trên.

- Chữ “bảo” trong cả hai đồng tiền có tự dạng khác nhau ở bộ “bối” khi vuông khi tròn nhưng có chung một điểm ở bộ “miên” có mái nhà xuống rất thấp che đến cả nửa chữ “bối” phía dưới; trong khi ở đồng tiền Trung Quốc thì mái nhà cao ráo chỉ che ngang chữ “trân”.

- Đặc biệt, ở đồng tiền số 2, chúng ta còn thấy thêm chữ “thông” viết theo lối chữ chân rất rõ ràng, nhưng bộ “sước” có đuôi dài vắt qua phía bên phải tạo hai nét đối xứng nhau qua chữ “dũng”.

Hai loại tiền này rất hiếm, nhưng các nhà sưu tập lại tìm thấy hai loại tiền Nguyên Phong cũng có đặc điểm tương tự, song đường kính chỉ 20mm.

Những đồng tiền 20mm này, đã được Toda giám định là của Trần Thái Tông, còn TingFuBao thì không chấp nhận, nhưng cũng không giám định được. Riêng Miuria Gosen thì cho rằng tiền được đúc trong 10 năm chống Minh (1418-1427) để nghĩa quân sử dụng. Các nhà sưu tập và nghiên cứu sau này cũng đều cho là của Trần Thái Tông.

Xét rằng TingFuBao và Miuria Gosen không chấp nhận là tiền triều Trần, ắt có vấn đề cần làm sáng tỏ, song sự giám định của Miuria Gosen thì hoàn toàn nhầm lẫn. Riêng tôi, từ lâu đã cho là của Mạc Thiên Tứ đúc tại Hà Tiên từ năm 1736!

BS NGUYỄN ANH HUY
(www.khoahoc.net)

Những đồng tiền của Trần Thái Tông

Năm 1225, vị nữ quốc vương nước Đại Việt là Lý Chiêu Hoàng cởi long bào nhường ngai vàng cho phu quân. Kể từ đây, vương quyền họ Lý chuyển sang họ Đông A. Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, lần lượt lấy 3 niên hiệu:

- Kiến Trung: 1225-1231

- Thiên Ứng Chính Bình: 1232-1250

- Nguyên Phong: 1251-1258

Ngay từ khi mới lên ngôi, vua đã quan tâm đến vấn đề sử dụng tiền tệ mà trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí đã ghi lại: “Năm Kiến Trung thứ 2... xuống chiếu định rằng dân gian dùng tiền với nhau thì một tiền là 69 đồng, gọi là tiền bớt, nộp lên thì 1 tiền là 70 đồng”.

Ngày nay giới sưu tập đã tìm thấy hai loại tiền Kiến Trung Thông Bảo đều đọc tròn, nhưng có đặc điểm thư pháp hoàn toàn khác nhau. Niên hiệu Kiến Trung còn gặp ở hai vị vua Trung Quốc là Đường Đức Tông, niên hiệu Kiến Trung (780-783) và Tống Huy Tông niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (1101). Vậy những đồng tiền trên do ai đúc?

* Có một loại tiền Kiến Trung đã được các chuyên gia tiền cổ như TingFuBao, Ogawa Hiroshi... giám định là tiền thời Đường, tôi hoàn toàn đồng ý vì xem kỹ thấy có các đặc điểm sau:

- Thư pháp trên đồng tiền chính là thư pháp được thể hiện trên các đồng tiền Trung Quốc đương thời: hai chữ “thông bảo” thì đã quá rõ; bộ “dẫn” trong chữ “kiến” không viết rõ như trong các đồng tiền sau này, lại viết giống bộ “sước” trong chữ “thông” trên cùng đồng tiền.

- Vành, kích thước và các đặc điểm khác đều mang đặc điểm của các loại tiền cùng thời.

* Loại xong đồng tiền vừa mô tả trên, còn lại một đồng tiền Kiến Trung đã được TingFuBao, Miuria Gosen... giám định là của Trần Thái Tông, song xem kỹ, sẽ nhận thấy có những đặc điểm rất kỳ lạ:

- Đồng tiền có vẻ dày dặn, cứng cáp, vành rộng... khác hẳn những đồng tiền thời Lý.

- Thư pháp cũng khác hẳn, chữ nhỏ nét dày, hai chữ “thông bảo” rất giống như trong tiền Tường Phù Thông Bảo (loại chữ nhỏ) của Tống Chân Tông đúc vào niên hiệu Đại Trung Tường Phù (1008-1017)...

Và như vậy, đồng tiền Kiến Trung này có đặc điểm, thư pháp... hoàn toàn giống tiền Tường Phù của Đại Tống! Hay tiền này là do Tống Huy Tông đúc?

Chúng ta chưa rõ các chuyên gia tiền cổ nổi tiếng của Trung Quốc - Nhật Bản giải thích sự nhận định của mình như thế nào, nên đành phải lựa đường hỏi tra:

Xét rằng Huy Tông (1101-1125) nước Đại Tống là một nghệ sĩ bậc thầy, một hoạ sĩ hữu danh, một nhà cổ ngoạn say mê, một thư pháp gia nổi tiếng... mà những đồng tiền đúc thời vua này như các hiệu Sùng Ninh (1102-1106), Đại Quan (1107-1110), Chính Hòa (1111-1117), Trọng Hòa (1118) và Tuyên Hòa (1119-1125) đều mang nét ngự bút. Ngoài ra, Tống sử còn cho hay năm 1101, Tống Huy Tông đã có đúc hai loại tiền là Thánh Tống Nguyên Bảo và Thánh Tống Thông Bảo đều mang thư pháp của vua; và mới đây, giới sưu tập còn tìm thấy tiền Kiến Quốc Thông Bảo (Kiến Quốc là viết tắt 4 chữ của niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc 1101) cũng mang thư pháp của vua. Nếu Tống Huy Tông có đúc tiền Kiến Trung, hẳn nó cũng phải nằm trong dòng chảy những đồng tiền mang thư pháp “Huy Tông thủ”, đồng thời có những đặc điểm của tiền thời này; trong khi tiền Kiến Trung Thông Bảo thì khác hẳn.

Vả lại, khi mới lập triều, Trần Thái Tông đã ban chiếu “Định phép dùng tiền”, chắc chắn phải có đúc tiền để thực thi chiếu ban hành, đồng thời bố cáo thiên hạ niên hiệu đang trị vì đất nước. Lẽ nào phải sử dụng lại các đồng tiền triều Lý là của một vương triều mà mình đã cướp ngôi và tìm mọi cách thủ tiêu, tận diệt?

Tuy vậy, lời giải thích trên vẫn chưa đủ sức thuyết phục cho việc giám định tiền Kiến Trung Thông Bảo là do Trần Thái Tông đúc. May đây, còn có một chứng cứ khác. Đó là những đồng tiền hiệu Chính Bình...

Sách của TingFuBao, Miuria Gosen giới thiệu tiếp là đồng tiền Chính Bình Thông Bảo có đặc điểm hoàn toàn giống tiền Kiến Trung vừa bàn, đồng thời cũng giám định là của Trần Thái Tông.

Ở Nhật Bản cũng có niên hiệu Chính Bình (Shohei 1346-1370), song vào thời này, tại xứ sở hoa anh đào đang lưu hành rộng rãi các loại tiền Trung Quốc, nếu có đúc thêm thì cũng chỉ phỏng lại các loại tiền Khai Nguyên Thông Bảo, Tống Nguyên Thông Bảo, Hồng Vũ Thông Bảo... mang các đặc điểm riêng.

Năm 1995, hai nhà sưu tập tiền cổ ở Âu (Lê Văn Trị) và Mỹ (Nguyễn Văn Hữu) đã tìm thêm được hai đồng tiền Chính Bình Nguyên Bảo cùng đặc điểm với tiền Chính Bình Thông Bảo, chỉ khác ở chổ chữ “thông” được thay bằng chữ “nguyên” nhưng cùng thư pháp. Nhiều nhà nghiên cứu tai nghe nhưng mắt chưa thấy, tỏ vẻ hoài nghi: - E đọc nhầm từ tiền Hàm Bình Nguyên Bảo mà ra? Thưa không, hai bản rập của hai đồng tiền từ hai chân trời gởi về cho thấy chữ “chính” gồm chữ “chánh” ghép với bộ “phộc” rất rõ ràng!

Xét mỗi sự kiện lịch sử, cũng như sự xuất hiện của một đồng tiền, phải đặt vào tổng thể hài hòa của nó. Do vậy, mỗi đồng tiền trong các đồng tiền Kiến Trung Thông Bảo, Chính Bình Thông Bảo và Chính Bình Nguyên Bảo chính là một chứng cứ bổ sung cho đồng tiền kia để đi đến kết luận...

Tất cả chúng đều được đúc thời Trần Thái Tông! Song sự xuất hiện của những đồng tiền có đặc điểm lạ ở nước Đại Việt, nhưng lại mang sắc thái của một thể loại tiền thời Bắc Tống, làm tôi băn khoăn: phải chăng chúng là sản phẩm của những người thợ đúc tiền lành nghề ở phía bắc nước Đại Tống, lánh nạn Mông - Nguyên sang lập nghiệp ở nước ta?
BS NGUYỄN ANH HUY
(www.khoahoc.net)

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Thú chơi tiền cổ của người Hà Nội

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites