Ebooks tham khảo sưu tập tiền

Nơi download sách điện tử tham khảo về sưu tập tiền các loại.

Thiên nhiên kỳ diệu trên tiền

Thiên nhiên luôn đem lại cho chúng ta những điều kỳ diệu. Hãy khám phá vẻ đẹp thế giới hoang dã trên bộ sưu tập tiền thế giới.

Giới thiệu đôi nét về tiền xu 2 Euro kỷ niệm của Đức

Từ năm 2006, mỗi năm sẽ có 1 đồng 2 euro mới với biểu tượng của 1 Bang Đức được phát hành, chủ đề trên tiền là kiến trúc các giáo đường,lâu đài nổi tiếng tại nước Đức.

Phong thủy các loại tiền

Bạn đã nghe về phong thủy của nhà ở, văn phòng làm việc... Nhưng bạn đã bao giờ nghe nói tiền cũng có phong thủy hay chưa?

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

Bộ sưu tập rùa trên tiền thế giới (Kỳ 1)



[Hình ảnh rùa trên tiền xu Fiji]



[Hình ảnh rùa trên tiền xu Cayman Island]




[Hình ảnh rùa trên tiền xu Tristan da cunha]



[Hình ảnh rùa trên tiền xu Tonga]


[Hình ảnh rùa trên tiền xu Tuvalu]


[Hình ảnh rùa trên tiền xu Thổ Nhĩ Kỳ]

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Tiền tệ Nhật Bản – Phần 2

Ngoài ý nghĩa là hiện kim dùng để chi trả trong mua bán, tiền còn là đối tượng hình thành nên những nét văn hóa, tín ngưỡng rất đặc thù của người Nhật.

Tại Nhật Bản có rất nhiều buổi tiệc mà khách mời mang phong bì tiền làm quà tặng chủ nhân. Đi cùng với phong tục này là dịch vụ kinh doanh thiệp nở rộ. Người Nhật vốn coi trọng hình thức, vì vậy, mỗi sự kiện tương ứng với một loại thiệp khác nhau.


Đặc trưng của thiệp cưới là hoa văn tươi tắn với các màu chủ đạo: đỏ trắng hoặc vàng bạc

Đặc trưng của thiệp cưới là hoa văn tươi tắn với các màu chủ đạo: đỏ trắng hoặc vàng bạc. Tuy nhiên, đối với những thiệp cưới phong cách hiện đại, màu sắc được cách tân trông sặc sỡ hơn. Trong khi đó, những mẫu thiệp dùng cho các mục đích cá nhân được thiết kế khá đơn giản từ hoa văn đến chất liệu giấy. Chiếm số lượng nhiều nhất trong loại thiệp này là thiệp cảm ơn và thiệp chúc mừng.

Một loại thiệp không thể thiếu trên thị trường thiệp Nhật Bản là thiệp dùng cho đám tang. Tại xứ sở này, người dân cũng sử dụng phong bì tiền khi viếng người quá cố. Thiệp đám tang có màu đen trắng, bạc và xám bạc.

Thiệp dùng cho đám tang ở Nhật

Vùng Asuka thuộc tỉnh Nara, từng là trung tâm văn hóa chính trị quan trọng của nước Nhật. Tại đây, người ta đã tìm thấy đồng tiền kim loại được cho là cổ xưa nhất ở Nhật với tên gọi Fuhonsen được đúc vào thế kỉ thứ VII theo lệnh của Thiên hoàng Temmu. Fuhonsen mô phỏng theo kiểu mẫu của tiền tệ Trung Quốc thời đó. Trên đồng tiền có khắc hai chữ kanji rất đậm nét là “Phú” và “Bản”, tạm dịch “Nền tảng của sự giàu có”.

Fuhonsen – đồng tiền kim loại được cho là cổ xưa nhất ở Nhật

Trước đó, người Nhật dùng những phiến đá đẽo thành hình đầu mũi tên, lúa và mảnh vụn của vàng để làm phương tiện trao đổi. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tại Trung Hoa đại lục, tiền kim loại đã được lưu hành rộng rãi trong giao dịch mua bán. Trong quá trình giao lưu văn hóa, hệ thống tiền tệ của Nhật chịu ảnh hưởng rất lớn từ Trung Quốc.

Tiền kim loại bằng đồng Wado-kaichin được triều đình Heijo-kyo phát hành vào năm 708. 52 năm sau, khi lượng vàng nội địa trở nên dồi dào, đồng tiền kim loại bằng vàng đầu tiên của Nhật Kaiki-shoho được đưa vào giao dịch. Giai đoạn sau đó, mỗi triều đại lần lượt cho ra đời những mẫu tiền kim loại khác nhau. Tuy nhiên, do nguồn nguyên liệu hạn chế, những đồng tiền kim loại của Nhật được đúc với kích thước khá nhỏ và chất lượng kém.

Nửa sau thế kỉ thứ X, tiền tệ Nhật Bản bước vào thời kì đen tối. Chính quyền ra lệnh tạm ngưng sản xuất tiền kim loại trong nước, thay vào đó là tăng cường nhập khẩu tiền của Trung Quốc để dùng trong mậu dịch. Tiền tệ Trung Quốc được người Nhật sử dụng xuyên suốt hơn 600 năm sau đó.

Mãi đến thế kỉ XVI, Nhật Bản mới bắt đầu đúc tiền kim loại trở lại. Lúc bấy giờ, thế lực của các lãnh chúa lớn mạnh, mỗi người hùng cứ một phương, họ thiết lập hệ thống chính trị riêng và sản xuất tiền để giao dịch trong địa hạt. Vì vậy, các lãnh chúa đẩy mạnh tìm kiếm và khai thác nguồn kim loại quí vàng và bạc tại khu vực đồi núi.

Mỏ vàng Iwami thuộc quyền quản lí của lãnh chúa Mori Moto-nari. Vị lãnh chúa này đã sử dụng số vàng dồi dào khai thác được để sản xuất vô số tiền kim loại bằng vàng có hình bầu dục. Ông dùng số tiền trên làm tài sản giao dịch thương mại để lấy các loại hàng hóa khác để tăng cường quân đội và củng cố sức mạnh. Cũng trong giai đoạn này, lãnh chúa Takeda Shingen nắm quyền chi phối khu vực hiện nay là tỉnh Yama-nashi. Shingen cũng sử dụng nguồn nguyên liệu vàng trong lãnh địa của mình để đúc những đồng kim loại bằng vàng. Tiền vàng của Shingen có hình tròn và kỹ thuật chạm khắc tinh xảo hơn tiền vàng của lãnh chúa Moto-nari.

Tuy nhiên, đồng tiền vàng được xem là xa xỉ nhất lúc bấy giờ là của lãnh chúa Toyo-tomi Hide-yoshi – nhân vật có công thống nhất Nhật Bản sau này. Hide-yoshi đã ra lệnh đúc đồng tiền vàng Tensho-oban bầu dục có chiều dài 17 cm, rộng 10 cm và nặng 160 gram. Nó được xem là đồng tiền vàng có kích thước lớn nhất trên thế giới. Nếu xét theo thời giá hiện nay, một đồng Tensho-oban tương đương 50 triệu yên, tức hơn 11 tỉ đồng Việt nam.

Đồng Tensho-oban có hình bầu dục
Tất cả các loại tiền vàng trên đều được sử dụng với một mục đích chung là gia tăng sức mạnh của chính quyền địa phương. Nói một cách khác, tiền tệ vào thời điểm này thể hiện quyền lực của lãnh chúa.

Đến thời Edo, hệ thống tài chính của Nhật Bản dần được hình thành với chủ trương sử dụng các loại tiền chung trên cả nước. Sau khi Nhật Bản thống nhất hoàn toàn, vị Tướng quân đầu tiên của nước này là Toku-gawa Ie-yasu đã quyết định đặt mỏ vàng và mỏ bạc của các địa phương nằm dưới sự quản lí của chính quyền Mạc phủ. Điều này nhằm tránh nguy cơ lãnh chúa khu vực khai thác nguồn kim loại quí đúc tiền củng cố quyền lực để tạo phản.

Chính quyền Mạc phủ cho đúc 3 loại tiền gồm tiền vàng, bạc và đồng. Hệ thống tiền tệ sơ khởi này được chi phối chặt chẽ bởi chính quyền. Tiền tệ được sử dụng thống nhất trên cả nước đã góp phần thúc đẩy thương mại và phát triển kinh tế. Nó cũng giúp thiết lập nhiều hoạt động tài chính liên quan đồng thời tạo mối gắn kết cộng đồng bền vững.

Vào thời Minh Trị, Nhật Bản chủ trương hiện đại hóa đất nước bằng cách học tập văn minh phương Tây. Các lĩnh vực kinh tế, xã hội và đời sống chuyển biến mạnh mẽ. Kỹ thuật đúc tiền của Châu Âu cũng được ứng dụng để tạo ra một loại tiền mới. Nó được gọi là tiền yên, tiếng Nhật có nghĩa là “vật hình tròn”.
(Thanh Tâm)

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Ebooks World Coins -02/2011


File PDF - 68 Trang.
Dung lượng : 60 MB
Link download : http://www.mediafire.com/?t4bg92vrmd172mt

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Tiền tệ Nhật Bản – Phần 1

Đơn vị tiền tệ của Nhật Bản là đồng yên và có hai hình thức yên Nhật được lưu hành là tiền kim loại và tiền giấy.

Nhật lưu hành 2 loại hình của đồng yên là tiền kim loại và tiền giấy

Tiền kim loại có tất cả 6 mệnh giá gồm đồng 1 yên, 5 yên, 10 yên, 50 yên, 100 yên và 500 yên. Đồng 1 yên có trọng lượng 1 gram, đường kính 20mm, dày 1,2mm, được đúc bằng chất liệu nhôm nguyên chất 100%. Đồng 1 yên có giá trị thấp nhất trong các đơn vị tiền tệ Nhật Bản. Đồng 5 yên và 50 yên được thiết kế có lỗ tròn ở giữa. Hình thức trang trí này nhằm tiết kiệm nguyên liệu cũng như tạo sự khác biệt so với các loại tiền xu khác.

Đồng 500 yên có giá trị cao nhất trong 6 loại tiền xu của Nhật Bản. Đồng 500 yên được đúc với công nghệ chống giả mạo. Khi nghiêng bề mặt của đồng tiền, chúng ta có thể nhìn rõ chữ số 500 yên in chìm bên trong hai con số 0.

Đồng yên bằng kim loại

Hình thức tiền tệ thứ 2 của Nhật Bản là tiền giấy. Có tất cả 4 mệnh giá gồm 1.000, 2.000, 5.000 và 10.000 yên. Ngoại trừ tờ 2.000 yên, 3 loại bạc giấy còn lại được trang trí hình nhân vật nổi tiếng. Mặt trước của tờ 1.000 yên là chân dung nhà vi trùng học Noguchi Hideyo, người đã cống hiến cả cuộc đời sự nghiệp nghiên cứu bệnh sốt vàng da.

Tờ 1.000, 5.000 và 10.000 yên được trang trí hình nhân vật nổi tiếng
Đối với tờ 5.000 yên, mặt trước của nó là chân dung của nữ nhà văn và tiểu thuyết gia nổi tiếng thời Minh Trị Higuchi Ichiyo. Tờ 10.000 yên nổi bật với hình ảnh của nhà tư tưởng Fuku-zawa Yukichi sống vào cuối thời Edo đầu thời Minh Trị.

Tờ 2.000 yên với họa tiết hình ảnh chiếc cổng Shureimon

Tờ 2.000 yên không được trang trí bằng chân dung của nhân vật mà được thiết kế với họa tiết hình ảnh chiếc cổng Shureimon của thành cổ Shuri thuộc Vương quốc Lưu Cầu ngày xưa trên mặt trước. Công trình lịch sử của tỉnh Okinawa này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2000.


Trong nhiều thế kỉ qua, tiền không chỉ được người Nhật sử dụng vào mục đích trao đổi thương mại mà còn mang ý nghĩa tâm linh.
Người Nhật có thói quen viếng chùa Phật giáo hoặc đền Thần Đạo vào những ngày đầu năm mới hay các dịp lễ để cầu Thần Phật phù hộ. Họ dâng lễ vật cầu xin bằng tiền, thường là tiền kim loại có mệnh giá thấp, tuy nhiên, cũng có nhiều người dâng tiền giấy có giá trị cao. Người Nhật tin rằng, những nơi linh thiêng như thế này có quyền năng giúp họ trở nên giàu có.

Otoshi-dama là tiền lì xì năm mới. Vào ngày mùng 1 Tết, trẻ em Nhật Bản nhận được các phong bao lì xì từ ông bà, cha mẹ và người thân trong gia đình.
Ngày xưa, quà năm mới cho trẻ con chỉ là những chiếc bánh gạo mochi với mong muốn các bé mau ăn, chóng lớn và thành công trong học hành. Dần dần, bánh gạo được thay thế bằng phong bao đựng tiền. Đây là món quà đầu năm được trẻ em Nhật Bản mong chờ nhất.

Tiền mừng tuổi dịp đầu năm mới dành cho các em nhỏ có họa tiết nhí nhảnh, đáng yêu

Tiền cũng được sử dụng làm quà tặng trong các sự kiện mang tính văn hóa truyền thống khác của người Nhật. Khi tham dự lễ cưới ở Nhật, người ta mừng cô dâu chú rể bằng phong bì có chứa tiền. Phong bì dành cho sự kiện đại hỷ này có tên gọi Go-shu-gi, chúng được trang trí rất đẹp. Tiền mừng trong ngày cưới nhằm mục đích cầu chúc đôi uyên ương khởi đầu cuộc sống mới thuận lợi, hạnh phúc. Tùy mối quan hệ thân sơ giữa khách và cô dâu chú rể, số tiền trong Go-shu-ji dao động từ 10.000 đến 100.000 yên, tương đương 2,3 triệu đến 23 triệu đồng Việt Nam. Các tờ tiền phải là tiền mới.

Go-shu-gi được trang trí rất đẹp mắt

Một số địa phương ở Nhật Bản cũng có những phong tục tập quán độc đáo liên quan đến tiền. Người dân ở ngôi làng Higashi dori thuộc tỉnh Ao-mori sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá và chăn nuôi gia súc. Đến tháng 9 hàng năm, dân làng tổ chức một buổi lễ truyền thống để cầu nguyện sức khỏe vật nuôi. Vào ngày này, mọi người tụ tập bên ngoài các ngôi nhà nuôi nhiều gia súc trong vùng để nhặt những đồng xu do chủ nhà ném về phía họ.

Phong tục ném tiền xu đã tồn tại ở Higashi dori từ rất lâu. Dân làng quan niệm rằng, đây là cách họ dâng hiện kim lên thần linh để cầu mong việc làm ăn tiến triển tốt đẹp, đối với người nhặt tiền xu thì đấy là điều may mắn.

Nhiều người tìm đến đền Thần Đạo Zenia-rai Benten…

…để rửa tiền với hy vọng được nhiều tiền hơn

Tại thành phố Kama-kura thuộc tỉnh Kana-gawa có ngôi đền Thần Đạo Zenia-rai Benten rất nổi tiếng. Nơi đây còn được biết đến với tên gọi “Ngôi đền dùng để gột rửa tiền”. Người ta tin rằng, nếu dùng nguồn nước suối chảy ra từ hang động của ngôi đền để rửa tiền thì họ sẽ có được nhiều tiền hơn.

Thanh Tâm

Biểu tượng trên tiền xu Euro Pháp


Ban đầu có 1200 hình vẽ được đưa ra giới thiệu để khắc lên tiền xu. Cuối cùng, một hội đồng , mà đứng đầu là Bộ trưởng Bộ Kinh Tế và Tài Chính đã thống nhất chọn ra 3 biểu tượng.
Biểu tượng 1:
Được khắc trên đồng 1 và 2 euro: là hình vẽ của nghệ sĩ Joaquim Jimenez, một cái cây to gợi lên hình ảnh của sự sống, sự phát triển và tính vĩnh cửu, nằm trong hình lục giác. Khẩu hiệu của nên cộng hòa "tự do, bình đẳng,bác ái" (liberté, égalité, fraternité) chạy vòng phía trên họa tiết.
Hình khắc ở cạnh của đồng tiền 2 euro là "2 * *" lặp lại 6 lần, số 2 đảo chiều xen kẽ.
Biểu tượng 2:
Trên đồng 10,20 và 50 centime vẫn giữ nguyên chủ đề "người gieo hạt" của đồng franc.Theo Laurent Jorlo : "hình vẽ hiện đại và vĩnh hằng này là biểu tượng của 1 nước Pháp tha thiết mong muốn sát nhập vào liên minh châu Âu".
Biểu tượng 3:
Đồng 1, 2 và 5 centime khắc chân dung một Marianne mới, trẻ trung và nữ tính với vẻ kiên quyết thể hiện sự mong ước cho một châu Âu vững mạnh và lâu bền. Biểu tượng này được thể hiện bởi Fabienne Courtiade, thợ khắc tiền ở Paris.
(blog.yume.vn)

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Đồng Franc

Franc là tên chung của một số đơn vị tiền tệ, nhất là franc Pháp - đơn vị tiền tệ của Pháp. Đồng franc Pháp lưu thông trên thị trường cho đến khi nước này thông qua nghị luật sử dụng đồng euro năm 1999 và đem thi hành năm 2002. Ngoài ra franc còn có thể là tên gọi đồng franc Thụy Sĩ, đơn vị tiền tệ của Thụy Sĩ và cũng là một ngoại tệ quan trọng trên thế giới.


Nguồn gốc tên gọi
Danh ngữ franc có nguồn gốc từ tiếng Latin francorum rex (có nghĩa là "Vua của người Frank"). Dòng chữ này được đúc trên những đồng tiền kim loại của Pháp thời xưa và rồi chữ franc được dùng làm tên gọi của thứ tiền đó. Franc trong tiếng Pháp còn có nghĩa là "tự do".
Sách Việt vào thế kỷ 19 còn phiên âm gọi đồng franc thành phật lăng. Sang thời Pháp thuộc người Việt còn gọi tiền đó là quan Pháp hoặc rút ngắn thành quan.
Địa bàn lưu thông
Quốc gia dùng đồng franc gồm có Thụy Sĩ, Liechtenstein và hầu như tất các các quốc gia tại châu Phi dùng tiếng Pháp. Trước khi đồng euro xuất hiện, đồng franc đã được dùng tại Pháp, Bỉ và Luxembourg, trong khi Andorra và Monaco công nhận đồng franc Pháp như một trong các tiền tệ chính thức. Đồng franc cũng đã được dùng tại các thuộc địa của Pháp như Algérie và Campuchia.


Một franc thường được chia thành 100 centime. Đồng franc Pháp có ký hiệu là ₣. Nhiều khi, trong tiếng Ý hay tiếng Tây Ban Nha, franc được viết thành franco.
Đang lưu thông
* Franc Thụy Sĩ
* CFA franc Tây Phi
* CFA franc Trung Phi
* CFP franc
* Franc Comoros
* Franc Burundi
* Franc Congo
* Franc Guinea
* Franc Djibouti
* Franc Rwuanda
Không còn lưu thông
* Franc Pháp
* Franc Bỉ
* Franc Luxembourg
* Franc Monaco
* Franc Andora
* Franc Madagascar
* Franc Mali
(www.wikipedia.com)

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011

Ebooks CoinWord 7/3/2011


File PDF - 250 Trang
Dung lượng : 94 MB
Link download : http://www.mediafire.com/?pc8ck8wa98n294f

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites