Thiên nhiên kỳ diệu trên tiền
Thiên nhiên luôn đem lại cho chúng ta những điều kỳ diệu. Hãy khám phá vẻ đẹp thế giới hoang dã trên bộ sưu tập tiền thế giới.
Giới thiệu đôi nét về tiền xu 2 Euro kỷ niệm của Đức
Từ năm 2006, mỗi năm sẽ có 1 đồng 2 euro mới với biểu tượng của 1 Bang Đức được phát hành, chủ đề trên tiền là kiến trúc các giáo đường,lâu đài nổi tiếng tại nước Đức.
Phong thủy các loại tiền
Bạn đã nghe về phong thủy của nhà ở, văn phòng làm việc... Nhưng bạn đã bao giờ nghe nói tiền cũng có phong thủy hay chưa?
Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011
Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011
Sửng sốt với thú săn tiền lẻ Việt của Tây
Để được sở hữu một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200 đồng, các nhà sưu tầm quốc tế phải trả một khoản tiền có giá trị cao gấp… 1000 lần.
Sưu tầm tiền giấy là một thú chơi rất thịnh hành trên thế giới. Không chỉ quan tâm đến tiền cổ, nhiều nhà sưu tầm quốc tế còn thu thập những bộ tiền vẫn còn được lưu hành của các quốc gia khác nhau. Bởi vậy mới có chuyện tiền giấy của Việt Nam được rao bán tràn lan trên eBay – trang web mua bán trực tuyến lớn nhất thế giới.

Tiền Việt hiện hành được rao bán... nhan nhản trên eBay.
Tại đây, tiền Việt Nam được rao bán ở hầu hết các mệnh giá, từ tiền giấy 100, 200 đồng cho đến tiền polymer 200.000, 500,000 đồng. Người bán tiền đến từ nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Thái Lan, Malaysia…
Để mua được những tờ tiền mình thích, các nhà sưu tầm sẽ phải trả nhiều khoản chi phí, gồm tiền mua hàng, cước vận chuyển theo quy định, và có thể là cả thuế và phí dịch vụ ở một số quốc gia. Điều này dẫn đến việc những tờ tiền lẻ của Việt Nam bị đội giá ở mức “khủng khiếp” khi đến tay các nhà sưu tầm.

Để mua tờ 100 đồng cũ kĩ của thành viên tên cybertreasuresllc (người Mỹ), khách hàng phải trả một khoản tiền trên 100.000 đồng.
Những tờ tiền đã bị coi là “không còn giá trị” ở Việt Nam như tiền mệnh giá 100, 200, 500 được bán với mức giá khoảng 1 USD, kèm cước vận chuyển từ 3 – 6 USD. Tính ra, để mua được một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100 đồng, các nhà sưu tầm quốc tế phải trả một khoản tiền có giá trị cao gấp… 1000 lần.

Tiền polymer 500.000 đồng được rao bán trên eBay.
Tiền mệnh giá lớn có tỉ lệ lãi tính theo phần trăm không cao, nhưng lợi nhuận thì vượt trội. Ví dụ, một cặp tiền polymer mệnh giá 500.000 đồng được thành viên tên lolitacandy (người Malaysia) rao bán với giá 88 USD, cao hơn giá trị thực tế khoảng 1 triệu đồng.

Phí tổn cho một bộ 5 đồng tiên xu lẻ là 11 USD.
Tiền xu Việt Nam phát hành năm 2003 cũng được bán theo bộ gồm 5 đồng tiền mệnh giá 200, 500, 1000, 2000, 5000 với giá 6 USD kèm 5 USD tiền vận chuyển. Người bán là thành viên tên asian_treasury đến từ Thái Lan.
Theo ghi nhận, dù là tiền lẻ hay tiền mệnh giá lớn thì các mặt hàng tiền Việt trên eBay đều bán khá… chạy, thể hiện qua các bảng theo dõi giao dịch. Bởi vậy mà người Việt Nam cũng không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh béo bở, như thành viên eBay có tên luckybanknote đăng ký địa chỉ tại Việt Nam là một ví dụ.
Với mục rao bán bộ 3 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000, 20.000 và 50.000 đồng, thành viên này đã bán được 22 bộ trong chưa đầy 4 tháng. Với giá bán 10 USD cho mỗi bộ, tính ra luckybanknote lãi khoảng 200.000 đồng mỗi bộ.

Một mục rao vặt tiền Việt của của thành viên luckybanknote đã có 22 lượt mua.
Với 22 bộ tiền xu, không cần mất quá nhiều công sức mà 4.500.000 đồng - tương đương 1 tháng lương công chức ở Việt Nam đã lần lượt “chảy” vào tài khoản ngân hàng của thành viên này.
(Theo BaoDatViet)
Sưu tầm tiền giấy là một thú chơi rất thịnh hành trên thế giới. Không chỉ quan tâm đến tiền cổ, nhiều nhà sưu tầm quốc tế còn thu thập những bộ tiền vẫn còn được lưu hành của các quốc gia khác nhau. Bởi vậy mới có chuyện tiền giấy của Việt Nam được rao bán tràn lan trên eBay – trang web mua bán trực tuyến lớn nhất thế giới.

Tiền Việt hiện hành được rao bán... nhan nhản trên eBay.
Tại đây, tiền Việt Nam được rao bán ở hầu hết các mệnh giá, từ tiền giấy 100, 200 đồng cho đến tiền polymer 200.000, 500,000 đồng. Người bán tiền đến từ nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Thái Lan, Malaysia…
Để mua được những tờ tiền mình thích, các nhà sưu tầm sẽ phải trả nhiều khoản chi phí, gồm tiền mua hàng, cước vận chuyển theo quy định, và có thể là cả thuế và phí dịch vụ ở một số quốc gia. Điều này dẫn đến việc những tờ tiền lẻ của Việt Nam bị đội giá ở mức “khủng khiếp” khi đến tay các nhà sưu tầm.

Để mua tờ 100 đồng cũ kĩ của thành viên tên cybertreasuresllc (người Mỹ), khách hàng phải trả một khoản tiền trên 100.000 đồng.
Những tờ tiền đã bị coi là “không còn giá trị” ở Việt Nam như tiền mệnh giá 100, 200, 500 được bán với mức giá khoảng 1 USD, kèm cước vận chuyển từ 3 – 6 USD. Tính ra, để mua được một tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100 đồng, các nhà sưu tầm quốc tế phải trả một khoản tiền có giá trị cao gấp… 1000 lần.

Tiền polymer 500.000 đồng được rao bán trên eBay.
Tiền mệnh giá lớn có tỉ lệ lãi tính theo phần trăm không cao, nhưng lợi nhuận thì vượt trội. Ví dụ, một cặp tiền polymer mệnh giá 500.000 đồng được thành viên tên lolitacandy (người Malaysia) rao bán với giá 88 USD, cao hơn giá trị thực tế khoảng 1 triệu đồng.

Phí tổn cho một bộ 5 đồng tiên xu lẻ là 11 USD.
Tiền xu Việt Nam phát hành năm 2003 cũng được bán theo bộ gồm 5 đồng tiền mệnh giá 200, 500, 1000, 2000, 5000 với giá 6 USD kèm 5 USD tiền vận chuyển. Người bán là thành viên tên asian_treasury đến từ Thái Lan.
Theo ghi nhận, dù là tiền lẻ hay tiền mệnh giá lớn thì các mặt hàng tiền Việt trên eBay đều bán khá… chạy, thể hiện qua các bảng theo dõi giao dịch. Bởi vậy mà người Việt Nam cũng không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh béo bở, như thành viên eBay có tên luckybanknote đăng ký địa chỉ tại Việt Nam là một ví dụ.
Với mục rao bán bộ 3 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000, 20.000 và 50.000 đồng, thành viên này đã bán được 22 bộ trong chưa đầy 4 tháng. Với giá bán 10 USD cho mỗi bộ, tính ra luckybanknote lãi khoảng 200.000 đồng mỗi bộ.

Một mục rao vặt tiền Việt của của thành viên luckybanknote đã có 22 lượt mua.
Với 22 bộ tiền xu, không cần mất quá nhiều công sức mà 4.500.000 đồng - tương đương 1 tháng lương công chức ở Việt Nam đã lần lượt “chảy” vào tài khoản ngân hàng của thành viên này.
(Theo BaoDatViet)
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011
Vài thông tin về xu kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - HàNội
Xu kỷ niệm 1000 năm TL-HN đc Agribank phát hành nhiều đợt
+Đợt đầu (Hình của NguyenTuanAnh đã đăng trên phốmuaban)


+Đợt sau



Đồng Bạc có hai loại đường kính 36mm và 28mm, Làm bằng Bạc (Ag) 99.9% thiết kế tinh tế giàu ý nghĩa.... được sản xuất trên dây chuyền công nghệ ITALY có độ sắc nét cao .Đựng trong hộp cao cấp lót nỉ .
Xu kỷ niệm 1000 năm TL-HN do Bảo Tín Minh Châu phát hành


Lấy cảm hứng nhân dịp đại lế 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, các nhà thiết kế của Bảo Tín Minh Châu đã cho ra đời Đồng tiền Vàng Rồng Thăng Long được làm từ vàng nguyên chất 9999.
+Đợt đầu (Hình của NguyenTuanAnh đã đăng trên phốmuaban)


+Đợt sau



Đồng Bạc có hai loại đường kính 36mm và 28mm, Làm bằng Bạc (Ag) 99.9% thiết kế tinh tế giàu ý nghĩa.... được sản xuất trên dây chuyền công nghệ ITALY có độ sắc nét cao .Đựng trong hộp cao cấp lót nỉ .
Xu kỷ niệm 1000 năm TL-HN do Bảo Tín Minh Châu phát hành


Lấy cảm hứng nhân dịp đại lế 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, các nhà thiết kế của Bảo Tín Minh Châu đã cho ra đời Đồng tiền Vàng Rồng Thăng Long được làm từ vàng nguyên chất 9999.
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011
Khu tự trị Nội Mông (Inner Mongolia)

[Bản đồ khu tự trị Nội Mông ngày nay]

[Cờ vùng Nội Mông thời kỳ Nhật chiếm đóng trong thế chiến thứ 2]
Khu tự trị Nội Mông là khu tự trị của người Mông Cổ tại Trung Quốc, nằm ở phía bắc quốc gia này. Khu tự trị có ranh giới trải dài từ tây sang đông, tiếp giáp với các tỉnh tỉnh Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc và Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ trong khi biên giới phía bắc là Mông Cổ và Liên bang Nga. Diện tích khu tự trị là 1,18 triệu km², chiếm 12% tổng diện tích đất đai của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tương đương với Pháp và Tây Ban Nha gộp lại, hoặc Texas và California gộp lại.
Lịch sử vùng Nội Mông có rất nhiều biến động phức tạp suốt hàng ngàn năm. Khu tự trị Nội Mông Cổ ngày nay được thành lập ngày 01/05/1947, nó là khu vực tự trị đầu tiên của dân tộc thiểu số ở Trung Quốc


[Đồng 5 CHIAO do ngân hàng Meng Chiang phát hành năm 1938 trong thời gian Nhật chiếm đóng vùng Nội Mông. Mặt trước là hình ảnh một cặp rồng cách điệu. Mặt sau có thiết kế hoa văn hình hoa cúc]
Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011
Nhìn lại tiền tệ Viễn Đông xưa
Viện bảo tàng Anh ở London sau cùng cũng khánh thành được phòng trưng bày tiền vào đầu năm 1997 nhờ lô tiền do Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải sưu tầm và gửi tặng. Nhìn lại cho thấu đáo, hóa ra đồng tiền cũng bắt nguồn từ châu Á. Và người ta ghi nhận được gì qua những mẫu tiền cổ châu Á?
Cứ thấy mẫu đồng xu tròn, bằng đồng, giữa có lỗ vuông là người ta nhận ra đó là tiền của các nước Viễn Đông ngày xưa. Thứ tiền này ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ 4 trước CN và sau đó lan tràn khắp nơi, tới Trung Á, Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác. Việc phát hiện dấu vết đồng tiền này ở nhiều nơi cho ta biết đã có những con đường giao thương nối Nam Á, Tây Á, Úc và châu Phi. Mẫu tiền này cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn được sản xuất, tuy rằng đã nhiễm văn minh phương Tây ở chỗ không còn lỗ vuông ở giữa và những chữ viết nữa, thay vào đó là hình chạm một nhân vật nào đó.
Nhiều vật phẩm khác nhau được người xưa dùng làm tiền (vải lụa, gia súc, đồ trang sức, kim loại và cả vỏ sò ốc nữa), nhưng đến đời nhà Chu (thế kỷ 6 trước CN), các vua cho đúc những dao mác nhỏ bằng đồng để làm tiền. Thời điểm này gần trùng với những đồng tiền xu đầu tiên của phương Tây. Sau 3 thế kỷ loạn lạc, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc mới làm ra đồng xu tròn có lỗ vuông ở giữa, có khắc hai chữ "bán lượng" (nửa lượng).
Đời nhà Hán, những đồng xu mang những giá trị nhỏ hơn để dễ dàng cho việc trao đổi và trở nên phổ biến ra cả ngoài biên giới Trung Quốc. Đến đời nhà Đường, vua Cao Tổ, năm 621 sau CN, không cho khắc cân lượng giá trị tiền trên đồng xu nữa mà cho khắc niên hiệu mình vào đó. Đồng tiền đầu tiên theo kiểu này là Khai Nguyên thông bảo.
Mẫu tiền này lập tức được các vua chuá châu Á ưa chuộng. Đồng xu đầu tiên của Nhật ra đời năm 708, của Việt Nam năm 970 và Hàn Quốc năm 996. Các thứ tiền này đều khắc chữ Hán, nhưng các mẫu tiền ở Trung Á thì dùng văn tự khác, tuy có cùng hình thức.
Loại đồng xu Khai Nguyên này phổ biến khắp Viễn Đông cho đến thế kỷ 19, khi các loại tiền phương Tây tràn ngập châu Á. Những đồng tiền cuối cùng theo kiểu này ở Trung Quốc là Dân Quốc thông bảo phát hành năm 1912 sau cách mạng Tân Hợi, ở Việt Nam là Bảo đại thông bảo (lưu hành từ 1926 đến tận 1945), ở Nhật là đồng Bunkyu eiho (1863-67), ở Hàn Quốc là đồng Sang pyong (1633-1887).
Như thế, mẫu tiền này đã tồn tại ở châu Á đến hơn 2000 năm, kể cả trong những thế kỷ mà châu Á đã biết tới thứ tiền phương Tây, được làm bằng kim loại qúi hơn đồng và có chạm hình thay vì chữ, nhưng đồng tiền truyền thống ở đây cũng không đổi. Chân dung xuất hiện đầu tiên trên tiền châu Á là hình Tôn Dật Tiên trên đồng tiền dân quốc làm ở Nam Kinh năm 1912.
Những đồng tiền bằng đồng giá trị nhỏ rất phù hợp cho chức năng chủ yếu của nó là để dễ lưu hành và thuận tiện mua bán nhỏ hàng ngày. Tại Nhật những đồng tiền đầu tiên cũng được làm bằng bạc, nhưng sau đó người ta dùng đồng thế vào. Nhất là sau khi Nhật tìm ra mỏ đồng đầu tiên vào năm 708.
Đồng xu phương Đông gắn liền với quan niệm của người Trung Quốc. Ngày xưa họ tin rằng trời thì tròn còn đất thì vuông (thiên viên địa phương), nên đồng xu mang cả hai biểu tượng đó, lại thêm niên hiệu nhà vua, được coi như "con trời", nắm thiên mệnh để cai trị dân. Hai mặt đồng xu còn biểu trưng cho âm dương, lỗ vuông tượng cho ngũ hành (tượng trưng bằng đông tây nam bắc-bốn cạnh của lỗ- và trung-lỗ vuông ở giữa)
Đơn vị tiền nhỏ nhất ở TQ là wen, ở Nhật là mun và ở Hàn Quốc là mon. Tuy đọc khác nhau nhưng cùng có nghĩa là văn trong âm Hán Việt. Đồng tiền có đơn vị căn bản này có sức mua thay đổi theo thời gian, tùy thời thái bình hay loạn lạc, thiên tai. Qua sử sách, người ta biết giá một con ngựa chẳng hạn, vào đời Hán là 4,500 wen, đời Đường: 25.000 wen, đời Bắc Tống: 20.000, đời Nguyên 90.000 và đời Minh: 10.000. Điều này có nghĩa người ta còn có cách trao đổi khác đối với những mặt hàng giá trị lớn, tuy rằng giá cả vẫn được tính bằng đồng wen này (chẳng hạn người ta dùng vàng hay bạc thoi, hoặc lụa tính theo đơn vị tấm).
Triều đình không độc quyền đúc tiền, mà bất cứ đơn vị nào đúc tiền cũng được, miễn đủ cân lượng và được dân tin dùng. Sách Hán Thư có ghi kẻ nào pha chì hay sắt vào đồng để đúc tiền sẽ bị thích chữ vào mặt.
Một chức năng nữa của tiền là để đóng thuế. Ở đây lại càng rõ tiền xu đồng không thể là phương tiện chi trả duy nhất. Thuế có thể trả bằng hiện vật như lúa hay vải. Ở Nhật thời Minh Trị, thuế vẫn được đóng bằng lúa. Đời nhà Thanh TQ người ta đúc bạc nén để đóng thuế. Điều này chứng tỏ vai trò ngày càng cao của bạc trong hệ thống tiền tệ TQ, nhất là trong những giao dịch giá trị lớn.
Những đồng xu vô tri, giá trị chẳng là mấy, hoá ra lại hàm chứa biết bao tri thức và thông tin về lịch sử những xã hội ngày xưa.
Phương Lâm (Theo Discovery)
Cứ thấy mẫu đồng xu tròn, bằng đồng, giữa có lỗ vuông là người ta nhận ra đó là tiền của các nước Viễn Đông ngày xưa. Thứ tiền này ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ 4 trước CN và sau đó lan tràn khắp nơi, tới Trung Á, Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác. Việc phát hiện dấu vết đồng tiền này ở nhiều nơi cho ta biết đã có những con đường giao thương nối Nam Á, Tây Á, Úc và châu Phi. Mẫu tiền này cho đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn được sản xuất, tuy rằng đã nhiễm văn minh phương Tây ở chỗ không còn lỗ vuông ở giữa và những chữ viết nữa, thay vào đó là hình chạm một nhân vật nào đó.
Nhiều vật phẩm khác nhau được người xưa dùng làm tiền (vải lụa, gia súc, đồ trang sức, kim loại và cả vỏ sò ốc nữa), nhưng đến đời nhà Chu (thế kỷ 6 trước CN), các vua cho đúc những dao mác nhỏ bằng đồng để làm tiền. Thời điểm này gần trùng với những đồng tiền xu đầu tiên của phương Tây. Sau 3 thế kỷ loạn lạc, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc mới làm ra đồng xu tròn có lỗ vuông ở giữa, có khắc hai chữ "bán lượng" (nửa lượng).
Đời nhà Hán, những đồng xu mang những giá trị nhỏ hơn để dễ dàng cho việc trao đổi và trở nên phổ biến ra cả ngoài biên giới Trung Quốc. Đến đời nhà Đường, vua Cao Tổ, năm 621 sau CN, không cho khắc cân lượng giá trị tiền trên đồng xu nữa mà cho khắc niên hiệu mình vào đó. Đồng tiền đầu tiên theo kiểu này là Khai Nguyên thông bảo.
Mẫu tiền này lập tức được các vua chuá châu Á ưa chuộng. Đồng xu đầu tiên của Nhật ra đời năm 708, của Việt Nam năm 970 và Hàn Quốc năm 996. Các thứ tiền này đều khắc chữ Hán, nhưng các mẫu tiền ở Trung Á thì dùng văn tự khác, tuy có cùng hình thức.
Loại đồng xu Khai Nguyên này phổ biến khắp Viễn Đông cho đến thế kỷ 19, khi các loại tiền phương Tây tràn ngập châu Á. Những đồng tiền cuối cùng theo kiểu này ở Trung Quốc là Dân Quốc thông bảo phát hành năm 1912 sau cách mạng Tân Hợi, ở Việt Nam là Bảo đại thông bảo (lưu hành từ 1926 đến tận 1945), ở Nhật là đồng Bunkyu eiho (1863-67), ở Hàn Quốc là đồng Sang pyong (1633-1887).
Như thế, mẫu tiền này đã tồn tại ở châu Á đến hơn 2000 năm, kể cả trong những thế kỷ mà châu Á đã biết tới thứ tiền phương Tây, được làm bằng kim loại qúi hơn đồng và có chạm hình thay vì chữ, nhưng đồng tiền truyền thống ở đây cũng không đổi. Chân dung xuất hiện đầu tiên trên tiền châu Á là hình Tôn Dật Tiên trên đồng tiền dân quốc làm ở Nam Kinh năm 1912.
Những đồng tiền bằng đồng giá trị nhỏ rất phù hợp cho chức năng chủ yếu của nó là để dễ lưu hành và thuận tiện mua bán nhỏ hàng ngày. Tại Nhật những đồng tiền đầu tiên cũng được làm bằng bạc, nhưng sau đó người ta dùng đồng thế vào. Nhất là sau khi Nhật tìm ra mỏ đồng đầu tiên vào năm 708.
Đồng xu phương Đông gắn liền với quan niệm của người Trung Quốc. Ngày xưa họ tin rằng trời thì tròn còn đất thì vuông (thiên viên địa phương), nên đồng xu mang cả hai biểu tượng đó, lại thêm niên hiệu nhà vua, được coi như "con trời", nắm thiên mệnh để cai trị dân. Hai mặt đồng xu còn biểu trưng cho âm dương, lỗ vuông tượng cho ngũ hành (tượng trưng bằng đông tây nam bắc-bốn cạnh của lỗ- và trung-lỗ vuông ở giữa)
Đơn vị tiền nhỏ nhất ở TQ là wen, ở Nhật là mun và ở Hàn Quốc là mon. Tuy đọc khác nhau nhưng cùng có nghĩa là văn trong âm Hán Việt. Đồng tiền có đơn vị căn bản này có sức mua thay đổi theo thời gian, tùy thời thái bình hay loạn lạc, thiên tai. Qua sử sách, người ta biết giá một con ngựa chẳng hạn, vào đời Hán là 4,500 wen, đời Đường: 25.000 wen, đời Bắc Tống: 20.000, đời Nguyên 90.000 và đời Minh: 10.000. Điều này có nghĩa người ta còn có cách trao đổi khác đối với những mặt hàng giá trị lớn, tuy rằng giá cả vẫn được tính bằng đồng wen này (chẳng hạn người ta dùng vàng hay bạc thoi, hoặc lụa tính theo đơn vị tấm).
Triều đình không độc quyền đúc tiền, mà bất cứ đơn vị nào đúc tiền cũng được, miễn đủ cân lượng và được dân tin dùng. Sách Hán Thư có ghi kẻ nào pha chì hay sắt vào đồng để đúc tiền sẽ bị thích chữ vào mặt.
Một chức năng nữa của tiền là để đóng thuế. Ở đây lại càng rõ tiền xu đồng không thể là phương tiện chi trả duy nhất. Thuế có thể trả bằng hiện vật như lúa hay vải. Ở Nhật thời Minh Trị, thuế vẫn được đóng bằng lúa. Đời nhà Thanh TQ người ta đúc bạc nén để đóng thuế. Điều này chứng tỏ vai trò ngày càng cao của bạc trong hệ thống tiền tệ TQ, nhất là trong những giao dịch giá trị lớn.
Những đồng xu vô tri, giá trị chẳng là mấy, hoá ra lại hàm chứa biết bao tri thức và thông tin về lịch sử những xã hội ngày xưa.
Phương Lâm (Theo Discovery)
Những ông bố tuyệt vời trong thế giới động vật
Cú sừng lớn, chim hồng hạc, cáo đỏ được mệnh danh là "người chồng chung thủy, ông bố mẫu mực" trong thế giới loài vật, do tạp chí National Geographic bình chọn.



[Hình ảnh cú sừng lớn trên tiền xu Eritrea]
Cú sừng lớn được mệnh danh là một “người chồng” rất yêu thương vợ, “người cha” chăm chỉ. Cuối mùa đông, khi những con cái nằm trong tổ ấp trứng, thì những con đực đi khắp nơi để kiếm ăn cho cả hai.



[Hình ảnh chim hồng hạc trên tiền xu Bahamas]
Chim hồng hạc không chỉ là một “người chồng” rất yêu vợ mà còn là một ông bố rất chu đáo. Loài này sống theo đàn lên đến hàng trăm nghìn con, nhưng vẫn chung thủy với lối sống "một vợ một chồng".



[Hình ảnh cáo trên tiền xu Falkland Island]
Cáo đỏ là một ông bố chu đáo, yêu thương các con. Chúng rất thích chơi đùa với con và giữ trọng trách mang thức ăn về cho cả nhà. Sau ba tháng, cáo con phải tự đi kiếm thức ăn, nhưng cáo cha lại không muốn con mình bị đói, nên giấu thức ăn ở gần nơi sống và dạy các con cách đánh hơi tìm thức ăn.



[Hình ảnh cá ngựa trên tiền xu Kelling cocos Island]
Trên trái đất, cá ngựa là loài duy nhất mà con đực mang thai và ấp trứng thay cho con cái. Khi cá ngựa con nở, những con cá ngựa vẫn ở trong túi ấp của cha, cho đến khi trưởng thành, chúng mới tự bơi ở ngoài.



[Hình ảnh chim cánh cụt trên tiền xu Galapagos Island]
Sau khi đẻ trứng, những con chim cánh cụt cái sẽ đi kiếm ăn trên biển, những chú cánh cụt hoàng đế sẽ ở lại giữ ấm bảo vệ những quả trứng. Trong khoảng thời gian hai tháng, cánh cụt hoàng đế không ăn gì. Khi những chú chim cánh cụt con ra đời, chim cánh cụt bố sẽ làm nhiệm vụ chăm sóc các con, cho chúng ăn sữa từ tuyến sữa trong thực quản. Khi chim mẹ trở về đem theo thức ăn cho con, các con chim cánh cụt đực mới được đi kiếm ăn.



[Hình ảnh sư tử trên tiền xu Đông Phi thuộc địa Anh]
Sư tử đực châu Phi luôn đứng ra bảo vệ khi gia đình nó bị đe dọa.



[Hình ảnh khỉ đột trên tiền xu Gibraltar]
Khỉ đột đực có lưng màu bạc, đóng vai trò là trụ cột gia đình và rất nghiêm khắc. Chúng có thể lãnh đạo nhóm gồm 30 con khỉ khác từ việc kiếm ăn cho đến giải quyết những tranh chấp trong gia đình, và chiến đấu chống thế lực bên ngoài.
Hương Thu - VNexpress.net


[Hình ảnh cú sừng lớn trên tiền xu Eritrea]
Cú sừng lớn được mệnh danh là một “người chồng” rất yêu thương vợ, “người cha” chăm chỉ. Cuối mùa đông, khi những con cái nằm trong tổ ấp trứng, thì những con đực đi khắp nơi để kiếm ăn cho cả hai.


[Hình ảnh chim hồng hạc trên tiền xu Bahamas]
Chim hồng hạc không chỉ là một “người chồng” rất yêu vợ mà còn là một ông bố rất chu đáo. Loài này sống theo đàn lên đến hàng trăm nghìn con, nhưng vẫn chung thủy với lối sống "một vợ một chồng".


[Hình ảnh cáo trên tiền xu Falkland Island]
Cáo đỏ là một ông bố chu đáo, yêu thương các con. Chúng rất thích chơi đùa với con và giữ trọng trách mang thức ăn về cho cả nhà. Sau ba tháng, cáo con phải tự đi kiếm thức ăn, nhưng cáo cha lại không muốn con mình bị đói, nên giấu thức ăn ở gần nơi sống và dạy các con cách đánh hơi tìm thức ăn.


[Hình ảnh cá ngựa trên tiền xu Kelling cocos Island]
Trên trái đất, cá ngựa là loài duy nhất mà con đực mang thai và ấp trứng thay cho con cái. Khi cá ngựa con nở, những con cá ngựa vẫn ở trong túi ấp của cha, cho đến khi trưởng thành, chúng mới tự bơi ở ngoài.


[Hình ảnh chim cánh cụt trên tiền xu Galapagos Island]
Sau khi đẻ trứng, những con chim cánh cụt cái sẽ đi kiếm ăn trên biển, những chú cánh cụt hoàng đế sẽ ở lại giữ ấm bảo vệ những quả trứng. Trong khoảng thời gian hai tháng, cánh cụt hoàng đế không ăn gì. Khi những chú chim cánh cụt con ra đời, chim cánh cụt bố sẽ làm nhiệm vụ chăm sóc các con, cho chúng ăn sữa từ tuyến sữa trong thực quản. Khi chim mẹ trở về đem theo thức ăn cho con, các con chim cánh cụt đực mới được đi kiếm ăn.


[Hình ảnh sư tử trên tiền xu Đông Phi thuộc địa Anh]
Sư tử đực châu Phi luôn đứng ra bảo vệ khi gia đình nó bị đe dọa.


[Hình ảnh khỉ đột trên tiền xu Gibraltar]
Khỉ đột đực có lưng màu bạc, đóng vai trò là trụ cột gia đình và rất nghiêm khắc. Chúng có thể lãnh đạo nhóm gồm 30 con khỉ khác từ việc kiếm ăn cho đến giải quyết những tranh chấp trong gia đình, và chiến đấu chống thế lực bên ngoài.
Hương Thu - VNexpress.net








